Đặt vấn đề Từ năm 2007 đến nay, Việt Nam phải đối mặt với quá nhiều bất ổn kinh tế như lạm phát cao, thâm hụt ngân sách lớn, nhập siêu tăng lên, trong khi cán cân vốn thiếu ổn định. Những yếu tố này cộng với những bất cập về mặt cơ cấu của nền kinh tế đã đặt Việt Nam vào một tình thế rủi ro quá mức trước các nguy cơ khủng hoảng tiền tệ. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nổ ra vào nửa cuối năm 2008 lại giáng thêm một đòn mạnh lên nền kinh tế Việt Nam, làm bộc lộ những khiếm khuyết trong mô hình phát triển cũng như những yếu kém trong điều hành chính sách, đặc biệt trong cơ chế tỷ giá. Với cơ chế tỷ giá hối đoái cố định, dòng vốn vào gia tăng đột biến trong năm 2007 buộc Ngân hàng Nhà nước (SBV) phải mua vào ngoại tệ để can thiệp.
Tuy nhiên cái giá phải trả là lạm phát phi mã lên đến 12,63% trong năm này. Hệ quả của các chính sách thắt chặt tiền tệ vào đầu năm 2008 đã làm cho tình hình trở nên khó khăn hơn khi dòng vốn chảy vào đột ngột chững lại, thậm chí có khuynh hướng đảo chiều, lợi suất trái phiếu tăng lên trên 20% một năm và tỷ giá có thời điểm lên đến 20. Các áp lực về tỷ giá và căng thẳng ngoại tệ liên tiếp nổ ra trong hai năm 2008 và 2009, mà nguyên nhân trực tiếp là sự găm giữ ngoại tệ của người dân, doanh nghiệp và giới đầu cơ. Hiện tượng này thực chất có nguyên nhân sâu xa hơn nằm ở cơ chế điều hành tỷ giá bất hợp lý đã dẫn đến sự kỳ vọng của thị trường về khả năng Ngân hàng Nhà nước (SBV) sẽ phá giá tiền tệ trước sức ép suy giảm dự trữ ngoại hối hoặc chi phí quá mức mà nền kinh tế đang phải gánh chịu.
Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận từ các lý thuyết khủng hoảng tiền tệ ba thế hệ để trả lời các câu hỏi: (i) phải chăng Việt Nam đã đối mặt với nguy cơ của các cuộc khủng hoảng tiền tệ trong những năm qua, (ii) liệu một cuộc khủng hoảng tiền tệ có xảy ra với Việt Nam trong năm 2010 hay một vài năm tiếp theo khi cơ chế tỷ giá cố định vẫn được duy trì trong khi các chỉ báo vĩ mô căn bản chưa được cải thiện, và (iii) Việt Nam nên làm gì để ngăn ngừa một cuộc khủng hoảng tiền tệ trong tương lai? 1. Mục tiêu nghiên cứu - Chứng minh những căng thẳng tỷ giá trong hai năm 2008 và 2009 phản ánh những dấu hiệu đặc trưng của các cuộc khủng hoảng tiền tệ; 2 - Cảnh báo những nguy cơ của cuộc khủng hoảng tiền tệ trong năm 2010 hoặc những năm tiếp theo khi các chỉ báo vĩ mô chưa cải thiện và một cơ chế tỷ giá hối đoái cố định tiếp tục duy trì; - Đưa ra những gợi ý và khuyến nghị chính sách nhằm tránh nguy cơ của một cuộc khủng hoảng tiền tệ được cảnh báo. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Khủng hoảng tiền tệ ở Việt Nam - Phạm vi nghiên cứu: Tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam giai đoạn 2007 – 2009 gắn với bối cảnh kinh tế thế giới, có dự báo cho năm 2010 và những năm tiếp theo. Phương pháp nghiên cứu Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng mô hình khủng hoảng tiền tệ ba thế hệ, có xét đến những biến thể của các mô hình tương tự đã được phát triển trong các nghiên cứu trước đây trên thế giới, từ đó áp dụng vào điều kiện Việt Nam để giải thích cơ chế và nguyên nhân của tình trạng căng thẳng ngoại tệ trong hai năm 2008 và 2009, đồng thời làm cơ sở dự báo cho năm 2010 và một vài năm tới.
Cơ sở của các mô hình khủnghoảng tiền tệ là các lý thuyết về tài chính phát triển và kinh tế vĩ mô liên quan đến mối quan hệ giữa các biến số chính như tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại tệ, cung tiền, tín dụng nội địa và lãi suất. Đồng thời, dựa trên phương pháp phân tích mô tả, nghiên cứu đi vào phân tích thực trạng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2009 dựa trên các chỉ báo vĩ mô gắn với các mô hình khủng hoảng tiền tệ. Kết hợp phương pháp suy luận quy nạp, chúng tôi chứng minh rằng những áp lực tỷ giá trong hai năm 2008 và 2009 ở Việt Nam phản ánh những dấu hiệu đặc trưng của các cuộc khủng hoảng tiền tệ. Từ các lý thuyết khủng hoảng tiền tệ, nghiên cứu đưa ra dự báo về khả năng sẽ xảy ra một cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Việt Nam trong tương lai nếu cơ chế tỷ giá vẫn cố định trong khi các chỉ báo vĩ mô căn bản vẫn chưa được cải thiện trong.
Bên cạnh đó, nghiên cứu còn vận dụng một số lý thuyết kinh tế vĩ mô quan trọng, trong đó có lý thuyết “bộ ba bất khả thi” nhằm hỗ trợ cho việc chứng minh luận điểm về sự cần thiết của một cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn ở Việt Nam nhằm cải thiện tính độc lập cho chính sách tiền tệ trong bối cảnh tài khoản vốn dần được tự do hóa. Kết cấu của Luận văn Trong phần đầu của nghiên cứu, chúng tôi đi vào tóm lược lịch sử nghiên cứu về các lý thuyết khủng hoảng tiền tệ trên thế giới cũng như ở Việt Nam thời gian qua. Sau đó, chúng tôi tiến hành phân tích sâu các mô hình khủng hoảng tiền tệ ba thế hệ dựa trên các nghiên cứu đi trước của các học giả như Paul Krugman, Maurice Obstfeld, Robert Flood, Marion Garber… 3 phù hợp với điều kiện Việt Nam nhằm giúp chúng tôi có thể giải thích rõ nhất điều gì đã và sẽ xảy ra ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2007 đến 2009 và dự báo cho năm 2010 cũng như một vài năm tới. Để dẫn chứng cho tình hình của Việt Nam, phần tiếp theo, chúng tôi đi vào phân tích tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam giai đoạn 2007 đến 2009 dựa trên các chỉ báo kinh tế quan trọng; đồng thời phân tích những rủi ro trong việc điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ và cơ chế tỷ giá đến nguy cơ khủng hoảng tiền tệ.
Dựa vào các mô hình khủng hoảng tiền tệ được xây dựng ở phần trước kết hợp với các chỉ báo vĩ mô chủ yếu được phân tích ở trên, phần tiếp theo của nghiên cứu chỉ ra rằng Việt Nam đã hứng chịu các đợt tấn công tiền tệ ở những mức độ khác nhau trong những năm 2008 và 2009. Hiện tượng này có khả năng sẽ lặp lại trong năm 2010 hoặc một vài năm tiếp theo nếu cơ chế tỷ giá vẫn bị neo ở một mức thấp giả tạo trong khi các chỉ báo vĩ mô bất lợi không được cải thiện. Phần cuối cùng, dựa trên các kết quả nghiên cứu này, những gợi ý và khuyến nghị chính sách của chúng tôi tập trung vào các khía cạnh chính sách quan trọng như: cần phải thay đổi cơ chế điều hành tỷ giá; nâng cao tính hiệu lực của các công cụ chính sách tiền tệ và tăng cường tính độc lập cho SBV; thắt chặt kỷ luật tài khóa, cải thiện tính minh bạch và phấn đấu giảm dần bội chi ngân sách; giám sát thận trọng tiến trình tự do hóa tài khoản vốn, kiểm soát chặt hoạt động vay nợ nước ngoài, đặc biệt là nợ thương mại ngắn hạn; và nâng cao năng lực tài chính và quản trị rủi ro của hệ thống ngân hàng Việt Nam. LÝ THUYẾT MÔ HÌNH KHỦNG HOẢNG TIỀN TỆ 2.
Tóm lược lịch sử nghiên cứu 2. Trên thế giới Dựa trên ý tưởng của Salant và Henderson (1978), Krugman (1979) đã nghiên cứu và cho ra đời một mô hình cho phép giải thích khá rõ nét về cơ chế của một cuộc tấn công tiền tệ được gọi là mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất. Mô hình này được xây dựng nhằm chứng minh sự thất bại của chính phủ trong nỗ lực neo giữ tỷ giá bằng nguồn dự trữ ngoại hối của mình trước các cuộc tấn công của giới đầu cơ. Mô hình của Krugman sau đó được hai nhà kinh tế khác là Flood và Garber phát triển thêm nhờ vào kết quả quan sát từ các cuộc khủng hoảng ở Argentina (1981) và Mexico (1982).
Điểm nổi bật của cách tiếp cận mới là hai ông đưa ra khái niệm tỷ giá hối đoái mờ (shadow exchange rate). Tỷ giá mờ là mức tỷ giá cân bằng mà vào một thời điểm nào đó khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế tỷ giá thả nổi. Với khái niệm mới này, mô hình điều chỉnh cho thấy rõ hơn thời điểm mà cuộc tấn công nổ ra. Cuộc khủng hoảng tiền tệ dưới Cơ chế Tiền tệ châu Âu (ERM) 1992 mang những đặc trưng mới mà mô hình thứ nhất không giải thích được.
Thực tế cho thấy nhiều nước tham gia ERM rơi vào khủng hoảng tiền tệ khi dự trữ ngoại tệ của họ vẫn khá dồi dào. Điều đó cho thấy dự trữ ngoại tệ không phải là vấn đề chính của khủng hoảng mà thay vào đó chính là sự lựa chọn chính sách. Năm 1994, Obstfeld đã nghiên cứu về vấn đề này và đề xuất một phiên bản khác về cuộc khủng hoảng tiền tệ - gọi là mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai. Theo mô hình này, chính phủ phải đánh đổi giữa các mục tiêu vĩ mô.
Trong khi đó, nhà đầu cơ sẽ phản ứng dựa vào kỳ vọng về khả năng phá giá tiền tệ của chính phủ. Kết quả là một cuộc khủng hoảng tiền tệ có tính tự phát sinh (self-fulfilling) nổ ra. Đến năm 1997, cuộc khủng hoảng Đông Á đã tạo cơ sở thực tiễn cho các nhà kinh tế xây dựng nên một phiên bản mới khác về một cuộc khủng hoảng tiền tệ. Các phiên bản đầu tiên về mô hình khủng hoảng tiền tệ trong thời gian này được nghiên cứu bởi McKinnon và Pill (1997), Krugman (1998).
Đặc trưng của khủng hoảng theo mô hình thứ ba này là sự khủng hoảng kép (twin crisis), đó là sự song hành giữa khủng hoảng tiền tệ (currency crisis) với khủng hoảng ngân hàng (banking crisis). Ngoài ra, mô hình cũng cho thấy tác nhân trực tiếp gây nên khủng hoảng chính là sự tự do hóa tài khoản vốn quá mức tạo điều kiện cho sự dịch chuyển không lường được của các dòng vốn ngắn hạn, đặc biệt là cú dùng đột ngột (sudden 5 stops) rồi sự đảo chiều của dòng vốn.