mở đầu hoặc giai đoạn chuẩn bị của giai đoạn thứ hai và thứ ba. + Giai đoạn khởi hành cải cách (1978-1982). Tiêu chí công cuộc cải cách kinh tế của Trung quốc bắt đầu được đưa ra tại 12 HNTU 3 (khóa XI) của DCSTQ năm 1978. Trọng điểm cải cách là về nông nghiệp.
Trung quốc từng bước xoá bỏ chế độ công xã nhân dân, thực hiện chế độ khoán sản lượng đến hộ gia đình, xí nghiệp hương trấn bắt đầu phát triển. Trong _xí nghiệp công nghiệp quốc doanh thi hành chế độ để lại một phần lợi nhuận (mà trước đây nộp hết) dan dan phát triển kinh tế hàng hoá. + Thời ky quá độ thứ nhất (1982-1984). Đại hội XII của ĐCSTQ năm 1982, bước đầu tìm được tư tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung quốc, tổng kết kinh nghiệm của mấy năm cải cách, xác định mục tiêu chiến lược cải cách và phát triển của Trung quốc.
Đại hội XII và thực tiễn sau đó đặt cơ sở cải cách toàn diện sắp sửa bat đầu. * Giai đoạn triển khai toàn diện (1984 - 1991). Hội nghị Trung ương 3 Đại hội XII ĐCSTQ năm 1984 đưa ra quyết định về cải cách thể chế kinh tế. Quyết định đó đưa ra luận điểm kinh tế xã hội chủ nghĩa là kinh tế hàng hoá có kế hoạch trên cơ sở chế độ công hữu.
Dòng chính của cải cách trong giai đoạn này là từ nông thôn đến thành thị, từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ sự mở cửa bên trong đến mở cửa đối ngoại, từ một số phương thức kinh doanh đến chỗ bắt đầu nhằm vào thể chế kinh tế truyền thống xơ cứng và tập trung, từng bước tiếp cận với kinh tế thị trường. Trong giai đoạn này, ở nông thôn hoàn thiện thêm một bước chế độ trách nhiệm khoán sản lượng đến hộ gia đình. Đội quân mới là xí nghiệp hương trấn ra đời, phát huy tác dụng ngày càng quan trọng. Ở thành thị, chủ yếu là chuyển đổi cơ chế kinh doanh của DNNN cỡ lớn và trung bình, thực hiện cải cách lấy chế độ trách nhiệm khoán kinh doanh làm chính.
Sự phát triển mở cửa đối ngoại của Trung quốc giai đoạn này cũng rất được chú ý đến. Trên cơ sở xây dựng được 5 đặc khu kinh tế, Trung quốc đã lần lượt mở cửa rất nhiều thành phố ở vùng duyên hải và biên giới, ven biển, ven sông, ven cầu đường. + Thoky i quá độ thứ hai (1992 - 1993). Đại hội XIV DCSTQ đã đặt mục tiêu cải cách vào xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
Năm 1992, Trung quốc đưa ra việc thực thi “Điều lệ chuyển đổi cơ chế kinh doanh của xí nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân”, đồng thời tích cực tìm tòi con đường cải tạo chế độ cổ phần, thị trường chứng khoán, thị trường nguồn tài nguyên, thị trường sức lao động được phát triển dần dần, điều 13 chỉnh thêm một bước lưu thông nông sản phẩm và giá cả. Đồng thời mậu dịch đối ngoại, thể chế tiền tệ-tài chính cũng được tiến hành cải cách. + Giai đoạn đột phá sâu sắc từ 1994 trở di. Trải qua thực tiễn cải cách hơn 10 năm, Trung quốc đã xây dựng được cái khung của hệ thống kinh tế lấy cơ chế thị trường làm cơ sở.
Nhưng vẫn chỉ là những nét lớn, bước đầu và chưa hoàn thiện. Trung quốc đang tiến hành thực thi chiến lược cải cách phối hợp đồng bộ, trọng điểm đột phá, đánh dấu cải cách của Trung quốc bước vào giai đoạn đột phá sâu sắc hoá. Kết quả chuyển đổi cơ cấu thành phần sở hữu ở Trung quốc. - Định hình lý luận kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
Nội dung quan trọng nhất trong nghị quyết của Đại hội XIV Đảng cộng ` sản Trung quốc là xác định mục tiêu cải cách thể chế kinh tế: Xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Về mặt lý luận, Trung quốc xác định đặc trưng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa là: Một, vận hành trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần cùng phát triển, lấy chế độ công hữu làm chủ thể. Hai, thực hiện nguyên tắc của CNXH là cùng giàu có, không dẫn tới tình trạng phân hoá hai cực. Ba, có sự điều tiết và khống chế mạnh mé ở tầm vĩ mô của nhà nước, tạo ra môi trường ồn định, an toàn và công bằng nhằm đảm bảo cho nền kinh tế vận hành một cách có trật tự.
[24] - Về thực tế thống kê. Tuy sự thống trị của quyền sở hữu công cộng vẫn được duy trì, nhưng kinh tế tập thể của khu vực thành thị và các doanh nghiệp thành phố nhỏ ở nông thôn đã phát triển mạnh, và một loạt các chính sách khuyến khích phát triển các doanh nghiệp với vốn cá thể, tư nhân và nước ngoài được thực hiện. Đóng góp của các thành phần sở hữu vào tổng sản phẩm công nghiệp( %). 05 | 1925 <- ae Các doanh rngghiệp tap thể 224 35.6 |Cathévaxinghigptrnhan — | 0 | s4 | Naudia anmin { I0 04a).
Ty trọng doanh số bán lẻ của các thành phan kinh tế (%). ————zzm—_-*#£-'_?- Các doanh nghiệp tập thể Các thành phần khác 7 ae Nguồn: Reform in China, Newsletter, 1992(CIEM 1 994a D, 14 Bảng 1. Tỷ trọng đóng góp vào GNP của các thành phân kinh tế (%). eer ee ee Se) 1978 | 1990_— | Cácthnhphnkhá | 2 | 10 Nguồn: Reform in China, Newsletter, 1992(CIEM 1994a).
Kết quả thu được là việc chứng minh vị trí độc tôn của sở hữu công cộng to ra không còn phù hợp với quá trình phát triển sức sản xuất hiện tại và sự xuất hiện của một cơ cấu sở hữu mới và sự cùng tồn tại của nhiều thành phần kinh tế. Xem xét tổng sản lượng công nghiệp từ năm 1986 đến 1990 ta thấy sản lượng của doanh nghiệp nhà nước tăng với tỷ lệ trung bình hàng năm là 6.06%, trong khi sản lượng của các hợp tác xã tăng 14.4% và doanh nghiệp vốn nước ngoài tăng 39. Xem xét tình hình thực tế hiện nay, một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Trung quốc như doanh nghiệp ở thành phố nhỏ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp cá thể và tư nhân, đã gắn chặt hoạt động kinh doanh của họ với thị trường, do đó họ tự quản lý và chịu trách nhiệm về lỗ lãi, và hoạt động sản xuất và quản lý của họ do thị trường điều tiết. Họ đã cơ bản thích nghĩ hoạt động của mình với cơ chế thị trường.
Kết quả là, chính các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tập thể đô thị lớn áp dụng các phương pháp quản lý cũ lại tỏ ra có sự khác biệt nghiêm trọng đối với thị trường và nền kinh tế thị trường. Điều này thể hiện một trong những đầu mối của nền kinh tế hiện tại, khơi dậy su băn khoăn lo lắng trong các tầng lớp nhân dân. Chuyển đối cơ chế hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Về cải cách doanh nghiệp nhà nước, đã tách biệt chính phủ ra khỏi doanh nghiệp và quyền sở hữu ra khỏi hoạt động quản trị kinh doanh, thay đổi phương thức hạch toán kinh doanh thu chi thống nhất, tang tính độc lập của các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, và cuối cùng thành lập một hệ thống doanh nghiệp phù hợp với sản xuất đại trà xã hội hoá và một nền kinh tế thị trường.
Trừ những doanh nghiệp thuộc các ngành phi cạnh tranh, đa số các doanh nghiệp nhà nước cần trở thành những đơn vị sản xuất kinh doanh hàng hoá độc lập, tự quản lý, có trách nhiệm vé lợi nhuận hay thua lỗ, và có khả nang tự phát triển. Với mục tiêu chung này, những mục đích chính của cải cách DNNN bao gồm: Mot Id tăng tính độc lập của doanh nghiệp trong quản lý sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, làm giá, mua nguyên liệu, sử dụng vốn, sử dụng tài sản, phân phối lương thưởng, tuyển dụng lao động và hệ thống nhân viên, hoạt động liên doanh, 15 cơ cấu nội bộ,v. Hai là làm rõ mối quan hệ phân phối giữa nhà nước và doanh nghiệp qua thuế thay vì chuyển nộp lợi nhuận. Ba là thực hiện hệ thống trách nhiệm hợp đồng đối với trên 90% doanh nghiệp nhà nước bằng cách áp dụng nguyên tắc “cố định và bảo lãnh số tiền được chuyển, giữ lại lợi nhuận vượt chỉ tiêu và đền bù cho thua 16 của doanh nghiệp `".
Bốn là khuyến khích các doanh nghiệp sáp nhập và hợp tác nằm ngang, thành lập các tập đoàn công ty liên ngành và liên vùng lớn. Nam là thử nghiệm hệ thống cổ phần, với 3.200 doanh nghiệp bán cổ phần thử, trong đó 69 doanh nghiệp bán cổ phiếu công khai. Thực tế này cho thấy nếu thay đổi cơ chế hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước theo một cách thực tế, thì việc chỉ dựa vào các hợp đồng sẽ có thể bị hạn chế trong một số nhỏ các ngành và doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn. Tuy nhiên, những phương pháp hiện tại cần được cải tiến và hoàn thiện nhằm thực hiện các hợp đồng về đầu vào, đầu ra và quản lý tài sản.
Vấn đề là cần nghiêm khắc cố định những chỉ số chủ chốt cho phát triển doanh nghiệp trong giai đoạn hợp đồng; và mặt khác, chúng ta cần trao tài sản nhà nước cho các doanh nghiệp và cho họ thẩm quyền quản lý. Vì thế, các doanh nghiệp phải có trách nhiệm hoàn toàn với việc giữ vững và làm tăng giá trị tài sản nhà nước. ị Đối với một số doanh nghiệp nhỏ, quyền quản lý có thể được chuyển đổi sang các tập thể và cá thể với tiền trả công thông qua đấu thầu hoặc đấu giá. Một số doanh nghiệp Nhà nước có thể do tập thể quản lý thông qua hợp đồng thuê.
Đối với đa số các doanh nghiệp Nhà nước thông thường, một phương pháp tốt hơn là áp dụng hệ thống cổ phần. Hầu hết các doanh nghiệp đều có thể được chuyển đổi sang các công ty trách nhiệm hữu hạn, còn các công ty khác chuyển thành công ty hữu hạn. Làm như vậy, người chủ sở hữu và người quản lý có thể được giới hạn trong cùng mối ràng buộc và sự cân bằng, để có thể thay đổi được hệ thống hiện tại một cách cơ bản và chính quyền cấp trên doanh nghiệp loại bỏ sự can thiệp của các cơ quan vào công tác quản lý doanh nghiệp. Kết quả là với trách nhiệm của chính phủ được tách biệt khỏi trách nhiệm của doanh nghiệp, và tách quyền sở hữu khỏi quyền lực quản lý, các doanh nghiệp có thể hoạt động với quyền tự quyết định và có trách nhiệm vẻ 16 lãi.