CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LẠM PHÁT 1. Lạm phát là một lĩnh vực tồn tại phổ biến trong nền kinh tế thị trường, trở thành mối quan tâm của rất nhiều các nhà kinh tế. Dựa trên các công trình nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm về lạm phát theo quan điểm của cá nhân. Nhà kinh tế học người Anh - John Maynard Keynes - người mà tư tưởng của mình là cơ sở hình thành nên trường phái Keynes nổi tiếng – đã đề xướng nguyên nhân cơ bản của lạm phát là vì sự biến động cung cầu.
Khi nền kinh tế có mức cung lớn hơn mức cầu, hàng hoá dư thừa, nền sản suất bị trì trệ, thì Chính phủ cần phải tăng các khoản chi tiêu, tung thêm tiền vào lưu thông, tăng tín dụng, mục đích tăng cầu để đạt tới mức cân bằng mới và vượt cung. Lúc này, lạm phát đã xuất hiện, là một công cụ thúc đẩy sản xuất phát triển, để tăng trưởng kinh tế, chống suy thoái với điều kiện đây là nền kinh tế phát triển có hiệu quả, tiến bộ kỹ thuật được áp dụng tích cực, cơ cấu kinh tế được đổi mới nhanh và đúng hướng. Ngược lại, nếu nền kinh tế phát triển kém hiệu quả trì trệ, thiết bị kỹ thuật lạc hậu, cơ cấu kinh tế chậm đổi mới hoặc đổi mới không phù hợp, thì lạm phát theo lý thuyết cầu không phải là công cụ tăng trưởng kinh tế. Một loại lạm phát khác xuất hiện, có liên quan đến chi phí sản xuất hàng hoá tăng lên nhanh hơn mức tăng năng suất lao động.
Chi phí sản xuất tăng lên, có thể do tăng giá của các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như tiền lương, nguyên vật liệu, lãi suất vay vốn hoặc lợi suất cổ tức, doanh nghiệp buộc phải tăng giá hàng bán trên thị trường để duy trì lợi nhuận. Việc tăng năng suất lao động xã hội đã không bù đắp được mức tăng chi phí sản xuất khiến cho giá cả tăng cao lạm phát xuất hiện. Lúc này, lạm phát đã gắn liền với suy thoái kinh tế. 6 Nhà kinh tế học người Mỹ theo trường phái trọng tiền hiện tại - Milton Friedman – quan niệm: lượng cung tiền tệ quyết định mặt bằng giá, hay nói rõ hơn ra là về dài lâu tăng tiền sẽ làm tăng giá và sẽ có ảnh hưởng rất ít, hoặc thậm chí không có ảnh hưởng gì đến sản lượng.
Về ngắn hạn tất nhiên nó có ảnh hưởng như lý thuyết Keynes đưa ra. Friedman khuyến nghị rằng nếu ngân hàng trung ương đều đặn tăng lượng cung tiền tệ bằng với tốc độ tăng (theo giá cố định) của nền kinh tế thì lạm phát sẽ biến mất. (Milton Friedman, 1956) Trong bộ tư bản nổi tiếng của mình, Các Mác viết: “Việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn ở số lượng vàng hoặc bạc thực sự lưu thông nhờ các đại diện tiền giấy của mình”. Điều này có nghĩa là lạm phát sẽ xuất hiện khi một Nhà nước phát hành và lưu thông khối lượng tiền giấy vượt hạn mức số vàng mà nó đại diện.
Theo David Begg “Lạm phát là sự gia tăng của mức giá. Lạm phát phát thuần nhất là mức giá của hang hóa và nhân tố đầu vào tăng theo cùng một tỷ lệ”. Tóm lại, ta có thể hiểu lạm phát là hiện tượng giá cả chung tăng lên và giá trị đồng tiền giảm xuống. Đầu tiên, thuật ngữ "lạm phát" chỉ ra sự gia tăng trong số lượng tiền trong lưu thông.
Tuy nhiên, hiện nay, trong kinh tế học, lạm phát được hiểu là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác.2 Phân loại lạm phát. Có nhiều tiêu thức phân loại lạm phát: Căn cứ vào mức độ lạm phát: Lạm phát ỳ: Tỷ lệ lạm phát ở mức từ 0% đến không quá vài %.
Xảy ra khi mức giá tăng lên theo một tỷ lệ khá ổn định. Là loại lạm phát mà người ta có thể dự tính và chấp nhận. 7 Lạm phát vừa: Tỷ lệ lạm phát ở mức một con số trong năm, và ổn định. Đây là mức độ lạm phát mà các chính phủ có thể chủ động định hướng duy trì một tỷ lệ nhất định để phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế ở mỗi thời kỳ khác nhau.
Lạm phát phi mã: Tỷ lệ lạm phát ở mức từ mức trung bình của 2 con số đến đỉnh cao của 03 con số. Đây là tỷ lệ lạm phát vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của ngân hàng Nhà nước. Siêu lạm phát: Tỷ lệ lạm phát ở mức trên 3 con số, thậm chí người ta không thể đo lạm phát bằng số % mà là bằng số lần tăng giá trong năm. Là hiện tượng khủng hoảng kinh tế đã đến mức rất nghiêm trọng.
Một ví dụ điển hình cho hiện tượng này là vấn nạn siêu lạm phát của quốc gia Zimbabwe; lạm phát đã tăng từ một tỷ lệ hàng năm 32% năm 1998, lên mức ước tính chính thức cao tới 11.000% vào tháng 8 năm 2008; đến năm 2009, Zimbabwe buộc phải từ bỏ đồng nội tệ của mình.3 Nguyên nhân lạm phát.1 Lạm phát do cầu kéo (Demand Pull Inflation). Với: LAS: Cung dài hạn SAS: Cung ngắn hạn AD: Tổng Cầu 8 Yp: Sản lượng tiềm năng P: Mức giá Ban đầu nền kinh tế cân bằng tại sản lượng tiềm năng Yp, mức giá P0. Nếu cung tiền không thay đổi thì khi tiền tệ lưu thông nhanh hơn, mức chi tiêu danh nghĩa tăng, đường tổng cầu dịch ra phía ngoài. Trong ngắn hạn, sự gia tăng tổng cầu làm tăng sản lượng của nền kinh tế, Y0 Y1.
Tại mức giá cũ doanh nghiệp bán được nhiều sản phẩm hơn. Do vậy, họ mở rộng sản xuất, thuê thêm nhân công, xây nhà máy. Theo thời gian, tổng cầu đẩy tiền lương và giá cả tăng lên. Khi giá tăng, cầu lại giảm xuống, và quay về sản lượng tự nhiên Yp, nhưng lúc này giá đã bị đẩy lên cao, sản lượng tiến về gần sản lượng tiềm năng nhưng giá tăng gây nên làm phát do cầu kéo.
Vậy các nguyên nhân nào làm cho tổng cầu tăng lên đều dẫn đền lạm phát trong ngắn hạn: - Chi tiêu chính phủ tăng chính phủ tăng các khoản chi của để cung ứng hàng hóa công cộng, như phát triển đường xá, trường học, quân sự, y tế, v. - Chi tiêu hộ gia đình: tăng tổng số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ đã chi cho tiêu dùng trong một thời gian nhất định, bao gồm cả tự sản, tự tiêu về lương thực, thực phẩm, phi lương thực, thực phẩm và các khoản chi tiêu khác (biếu, đóng góp. Các khoản chi tiêu của hộ không bao gồm chi phí sản xuất, thuế sản xuất, gửi tiết kiệm, cho vay, trả nợ và các khoản chi tương tự. - Nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp tăng lên: dự báo về nền kinh tế phát triển, thị trường, mở rộng - Nhu cầu của nước ngoài: do lợi thế về tỷ giá, giá cả hàng hoá trong nước so với nước ngoài, ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu - Thuế giảm: thu nhập người dân tăng, kích thích nhu cầu tiêu dùng, cầu AD dịch chuyển 9 1.2 Lạm phát do chi phí đẩy (Cost Push Inflation).
Phát sinh từ phía cung, việc gia tăng chi phí sản xuất, dẫn đến áp lực tăng giá, xuất hiện lạm phát. Một số nguyên nhân gây ra sau: - Giá cả nguyên nhiên vật liệu tăng (do tỷ giá tăng hoặc khả năng khả khai thác hạn chế) thì tổng chi phí sản xuất sẽ tăng lên. Nhà sản xuất chuyển việc tăng chi phí này cho người tiêu dùng thì giá bán sẽ tăng lên. - Giá cả nhập khẩu cao hơn được chuyển cho người tiêu dùng nội địa.
Nhập khẩu càng trở lên đắt đỏ khi đồng nội tệ yếu đi hoặc mất giá so với đồng tiền khác. - Tăng thuế: tiền thuế được tính vào giá thành sản phẩm, giá tăng Tuỳ vào tình hình thực tế của mỗi quốc gia, mà lạm phát còn chịu sự chi phối bởi các nguyên nhân khác: - Tâm lý của người dân: thái độ của họ đối với đồng tiền của quốc gia mình, nếu họ đẩy tiền vào lưu thông bằng việc mua hàng hoá dự trữ hoặc đầu tư vào một hình thức khác được cho là đảm bảo hơn… Như thế, cầu và cung sẽ không cân bằng trên thị trường, cung không đáp ứng được cầu,sẽ đẩy giá lên cao, từ đó xuất hiện lạm phát. - Chính sách quản lý kinh tế không phù hợp của chính phủ (chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách lãi suất, chính sách thuế. ) làm nền kinh tế bị khủng hoảng, gây ra thâm hụt ngân sách, dẫn đến tăng cung ứng tiền tệ và gây ra lạm phát cao.
Khi vướng vào tình trạng thâm hụt ngân sách, các chính phủ thường tìm cách khắc phục bằng các biện pháp. Đối với những quốc gia có nền kinh tế phát triển thì phát hành trái phiếu, song việc phát hành này kéo dài sẽ làm cầu về vốn sẽ tăng và lãi xuất trên thị trưòng tăng cao; để giảm lãi xuất chính phủ lại phải mua vào các trái phiếu đó, dẫn đến cung tiền tăng và gây lạm phát.Đối với các quốc gia đang phát triển, nguồn vốn còn hạn chế, nên việc phát hành trái phiếu chính phủ thường không khả thi, các quốc gia này thường sử dụng phương thức in tiền, vì thế khi sự thâm hụt càng trầm trọng và kéo dài thì lượng tiền tệ sẽ tăng theo và tỷ lệ gây lạm phát càng lớn. 10 - Những nguyên nhân khách quan như: thiên tai, động đất hoặc nền kinh tế bị tàn phá sau chiến tranh, tình hình biến động của thế giới….4 Tác động của lạm phát lên nền kinh tế. Lạm phát có thể tác động mọi mặt lên nền kinh tế, và theo hai chiều hướng tích cực lẫn tiêu cực 1.1 Tác động tích cực.
- Giúp tăng trưởng kinh tế: ở một ngưỡng lạm phát nhất định cho tăng trưởng kinh tế, có tác dụng kích thích tiêu dùng, khuyến khích huy động vốn đầu tư và tăng tính linh hoạt giá cả. - Chính phủ có điều kiện lựa chọn các công cụ kích thích đầu tư thông qua mở tổng tín dụng và tài trợ lạm phát, giúp phân phối lại thu nhập và các nguồn lực xã hội có mục tiêu và trong thời gian giới hạn.