chương 1 tập trung vào trình bày về tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đến việc kiểm soát lạm phát, trong đó giới thiệu cơ chế điều hành chính sách tiền tệ theo mục tiêu lạm phát và mô hình chính sách tài khóa tác động đến mức giá. - Chương 2: Phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam. Chương 2 của luận án phân tích diễn biến tình hình lạm phát ở Việt Nam từ năm 1976, trong đó tập trung chủ yếu từ năm 1996 đến năm 2009. Thông qua đó, luận án đúc kết các nguyên nhân gay ra lam phát và đưa chúng vào các mô hình làm cơ sở cho việc định hướng các giải pháp.
Kết quả nghiên cứu ở chương 2 đặt ra ba vấn đề then chốt cần giải quyết trong quá trình kiểm soát lạm phát, đó là () Xử lý hài hòa giữa kiểm soát lạm phát và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng: (ij) Đổi mới cơ chế điều hành chính sách tiền tệ hướng vào kiểm soát lam phat; (ii) Cải cách chính sách tài khóa góp phần kiểm soát lạm phát. 11 - Chương 3: Mối quan hệ giữa một số biến số kinh tế vĩ mô cơ bản và lạm phát ở Việt Nam. Từ ba vấn đề đặt ra trong chương 2, chương 3 của luận án lựa chọn và đi vào phân tích tác động của tỷ giá, lãi suất, bội chi ngân sách nhà nước đến lạm phát cũng như ảnh hưởng của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế. Dựa trên những kết quả nghiên cứu này góp phần hoạch định các giải pháp tài chính, tiền tệ kiểm soát lạm phát.
- Chương 4: Các giải pháp tài chính - tiền tệ kiểm soát lạm phát trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Chương 4 đề ra các giải pháp chuyển đổi cơ chế điều hành chính sách tiền tệ và thiết kế mô hình chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát. Hai nhóm giải pháp này được đặt trên nền tảng một chiến lược phát triển kinh tế bền vững thông qua việc xử lý hài hòa bài toán thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và kiểm soát lạm phát. l CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VỚI VIỆC RIỂM SOÁT LẠM PHÁT 1.1 TOM LUGC LY THUYET CO BAN VE LAM PHAT 1.1 Nhận diện và đo lường lạm phát 1.1 Các quan điểm về lạm phát Lạm phát là một phạm trù kinh tế khách quan phát sinh từ chế độ lưu thông tiền giấy.
Cho đến nay, các nhà kinh tế học đã đưa ra nhiều khái niệm về lạm phát, song chúng ta vẫn chưa có được một định nghĩa thống nhất về lạm phát. Có người tiếp cận lạm phát theo những nguyên nhân của nó, có người tiếp cận lạm phát theo hướng tập trung vào những ảnh hưởng của lạm phát. Rudiger Dornbusch và S.Fischer cho rằng lạm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên trong một thời gian nhất định [46, tr.Marx phát biểu lạm phát là hiện tượng tiền giấy tràn ngập các kênh lưu thông tiền tệ, vượt quá các nhu cầu của kinh tế thực làm cho tiền tệ bị mất giá và phân phối lại thu nhập quốc đân [16, tr.248]; Fisher (1911) định nghĩa lạm phát là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tiền và hàng trong nền kinh tế, sự mất cân đối với tiền lớn hơn hàng khiến cho giá tăng lên ở mọi lúc mọi nơi. Dù khác nhau về góc độ tiếp cận, nhưng các quan điểm đều đề cập đến một khía cạnh chưng đó là sự tăng lên của giá, một trong những biểu hiện cơ bản của lam phat.
Do vậy, hiện nay các nhà kinh tế khi xem xét lạm phát chủ yếu thiên về 13 những biểu hiện của lạm phát. Họ xem lạm phát là hiện tượng mức giá chung tăng lên, sự tăng giá này thường diễn ra với tốc độ cao và kéo dài. Quan điểm này được sự ủng hộ của nhiều nhà kinh tế học và lan truyền rộng rãi ở phương Tây. Bentet Hanxen nhấn mạnh: “Khi chúng ta nói đến lạm phát tức là chúng ta quyện nó với việc nâng giá” [10, tr.80]; cùng quan điểm đó, Emin Giam cho rằng: “Hiện tượng cơ bản của lạm phát là tăng giá” [10, tr.80]; Euyun Danner cụ thể hơn: “Với lạm phát chúng ta hiểu đó là sự nâng giá kéo đài” [10, tr.80]; các nhà kinh té J.C Clinder kết luận: “Thời kỳ bất kỳ mà trong thời kỳ ấy giá hàng tăng, không kể sự biến động ấy là lâu dài, có tính chu kỳ hoặc ngoại lệ là thời kỳ lạm phat” [10, tr.
Trong trường hợp mức giá chung chỉ tăng ở mức thấp hoặc có khi giảm xuống thấp hơn những kỳ trước, khi đó người ta đang nhắc tới hai trạng thái khác của lạm phát là thiểu phát và giảm phát. - Thiểu phát là tình trạng tỷ lệ lạm phát giảm dần, kỳ sau thấp hơn kỳ trước và giảm xuống tới một tỷ lệ rất thấp. Không có tiêu chí chính xác để xác định tỷ lệ lạm phát thấp cỡ bao nhiêu phần trăm một năm trở xuống thì được coi là thiểu phát. Ở những quốc gia mà cơ quan quản lý tiền tệ rất không ưa lạm phát như Đức và Nhật Bản, thì tỷ lệ lạm phát 3%-4%/năm được cho là trung bình, chứ chưa phải thấp đến mức được coi là thiểu phát.
Ở Việt Nam, vào năm 2002 và 2003, khi tỷ lệ lạm phát ở mức 3%-4%/ năm, xuất hiện một số quan điểm cho rằng nền kinh tế rơi vào tình trạng thiểu phát. - Giểm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống liên tục (cũng có thể nói giảm phát là lạm phát với tỷ lệ mang giá trị âm, trong các tài liệu thống kê chính thức, khi đề cập đến giảm phát, người ta vẫn đặt đấu âm kèm với 14 con số ở mục tỷ lệ lạm phát), giảm phát thường xuất hiện khi kinh tế suy thoái hay đình đốn.2 Ðo lường lam phat ÐĐo lường lạm phát bằng các chỉ số giá Từ quan điểm lạm phát là sự tăng giá, để đo lường lạm phát tức là đo lường sự thay đổi của mức giá chung, các nhà kinh tế thường sử dụng các chỉ số giá. Có nhiều chỉ số giá được sử dụng như: (ÿ Chỉ số giá tiêu dùng CPI (Consumer Price Index); (ii) Chi số giá sản xuất PPI (Producer Price Index); (iii) Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội hay chỉ số điều chỉnh GDP (GDP Deflator); () Chỉ số chỉ phí việc làm ECI (Employment Cost Index) [Xem phụ lục 1 (r. Đồng thời, căn cứ vào sự biến động của các chỉ số giá, các nhà kinh tế chia lạm phát thành 3 mức độ là vừa phải, phi mã và siêu tốc [Xem phụ lục 2 (.
Đo lường lạm phát bằng lạm phát cơ bản Trong các chỉ số giá được sử dụng để đo lường lạm phát, CPI là một chỉ số thông dụng được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức độ lạm phát bởi vì nó gắn liền với cuộc sống thường nhật của người dân. Song, CPI được xem là dé bị tổn thương đối với những yếu tố vượt ra khỏi tầm kiểm soát của chính sách kinh tế, và kết quả thường không ổn định đo những cú sốc đột biến hay những biến động trong một lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế, ví dụ những biến động trong giá đầu. Về cơ bản, những yếu tố biến động có ảnh hưởng tới CPI thường gắn liền với yếu tố cung trong khi chính sách tiền tệ lại tập trung vào kiểm soát những yếu tố ảnh hưởng tới cầu. Vì vậy, để đo lường lạm phát nên lấy thành phần thay đổi giá chung cho tất cả các mặt hàng, loại trừ sự thay đổi giá của hàng hóa và dịch vụ tương ứng, tức là đo lường lạm phát bằng lạm phát cơ bản (core infation).
Chỉ số lạm phát cơ bản 15 cho thấy xu hướng phát triển của chỉ số giá chung (xu hướng lạm phát dài hạn) mà có thể bị tác động trực tiếp từ chính sách tiền tệ. Dựa trên lạm phát cơ bản mà ngân hàng trung ương điều hành chính sách tiền tệ một cách phù hợp. Khi sử dụng chỉ số lạm phát cơ bản, CPI là cơ sở để khai thác thông tin đo lường xu hướng lạm phát tiềm tàng. Hiện nay, có nhiều phương pháp và mô hình dùng để tính lạm phát cơ bản như: () Phương pháp loại trừ, () Phương pháp điều chỉnh trung bình và phương pháp quyền số điểm giữa; () Mô hình cấu trac VAR; (iv) Mô hình tham số cho việc dự đoán lạm phát cơ bản và diễn dịch qui trình lạm phát; (z) Mô hình tham số của qui trình lạm phát [Xem phụ lục 3 (r.2 Nguyên nhân cửa lạm phát Có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát, song nguyên nhân trực tiếp của bất kỳ cuộc lạm phát nào cũng xuất phát từ các lý do đẩy tổng cầu tăng quá mức (lạm phát do cầu kéo) hoặc tổng cung giảm do chỉ phí tăng lên (lạm phát chỉ phí đẩy).
Nhà kinh tế Pháp Jacques Marshall nói: “Trên thực tế, trình độ trung bình của giá hàng hóa bị nâng lên và giá trị tiền tệ hạ thấp trong hai trường hợp: khi cầu về sản phẩm tăng mà sản xuất thì lại không đủ co dãn hoặc là khi các đương sự của các yếu tố như công nhân làm thuê, đặc biệt là những người lãnh đạo xí nghiệp gia tăng yêu sách của họ và làm tăng chỉ phí. Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta nói đến lạm phát cầu. Còn trong trường hợp thứ hai, chúng ta nói đến lạm phát chỉ phí” [10, tr.1 Nguyên nhân về phía cầu (Lạm phát cầu kéo) Lạm phát cầu kéo là lạm phát xảy ra do tổng cầu tăng vượt quá mức cung hàng hóa của xã hội dẫn đến áp lực tăng giá. Khi nghiên cứu về lạm phát, Bentet 16 Hanxen viết: “Bởi vì nhu cầu quá mức có thể coi là nguyên nhân của lạm phát cho nên chúng ta có thể công nhận rằng lạm phát, đó là tình huống ở đó tồn tại cầu quá mức rộng khắp đối với nhiều mặt hàng trên thị trường” [10, tr.
Phát huy quan điểm này, Herbert Goeths cho rằng: “Lạm phát là một dãy các tình huống tồn tại sự dư thừa cầu” [10, tr.1: Mô hình AD-AS trong trường hợp lạm phát cầu kéo.1 cho thấy do tổng cầu tăng lên (đường Pa tổng cầu dịch chuyển về bên phải (ADạ->AD¡-> Py AD;) làm cho mức giá chung của nền kinh tế Po tăng (Pụ -> Pì ->P¿). > Nguyên nhân nào làm cho tổng cầu tăng lên? Để thấy được vấn đề, chúng ta tách tổng cầu theo các thành phần chỉ tiêu trong nền kinh tế: AD=C+lI+G+(X-M) (1.1) Trong đó: C: chỉ tiêu của dân cư; I: chi đầu tư của doanh nghiệp; G: chỉ tiêu của chính phủ; X: xuất khẩu; M: nhập khẩu.