Luận án tiến sĩ nâng cao năng lực cạnh tranh của nhtmcp ngoại thương việt nam trong điều kiện hội nhập quốc tế về tài chính ngân hàng

Luận án tiến sĩ phân tích nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

177
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về NHTMCP Ngoại thương Việt Nam

Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) đóng vai trò quan trọng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. VCB không chỉ cung cấp dịch vụ tài chính mà còn là cầu nối giữa các doanh nghiệp và thị trường quốc tế. Trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế, VCB cần nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại hiện nay không chỉ diễn ra trong nước mà còn mở rộng ra toàn cầu. Điều này đòi hỏi VCB phải có những chiến lược phù hợp để nâng cao vị thế của mình trên thị trường quốc tế.

1.1. Vai trò của VCB trong nền kinh tế

VCB có vai trò quan trọng trong việc cung cấp vốn cho sản xuất và kinh doanh, đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường quốc tế. Sự phát triển của VCB không chỉ góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam mà còn nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. VCB cần phải cải thiện năng lực cạnh tranh của mình thông qua việc đổi mới công nghệ, cải tiến dịch vụ và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.

II. Thực trạng năng lực cạnh tranh của VCB

Thực trạng năng lực cạnh tranh của VCB trong giai đoạn 2014-2018 cho thấy ngân hàng này đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. VCB cần phải cải thiện các chỉ số tài chính, nâng cao hiệu quả hoạt động và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh. Việc áp dụng công nghệ mới trong quản lý và cung cấp dịch vụ cũng là một yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh. Các dịch vụ ngân hàng điện tử và dịch vụ thanh toán quốc tế cần được phát triển mạnh mẽ hơn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

2.1. Đánh giá hiệu quả kinh doanh của VCB

Đánh giá hiệu quả kinh doanh của VCB cho thấy ngân hàng này đã có sự tăng trưởng ổn định trong doanh thu và lợi nhuận. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu vẫn còn ở mức cao, điều này ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng. VCB cần có các biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả hơn để cải thiện tình hình tài chính và nâng cao uy tín trên thị trường.

III. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của VCB

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, VCB cần thực hiện một số giải pháp quan trọng. Đầu tiên, ngân hàng cần tăng cường đầu tư vào công nghệ thông tin để cải thiện quy trình làm việc và nâng cao chất lượng dịch vụ. Thứ hai, VCB cần mở rộng mạng lưới chi nhánh và điểm giao dịch để tiếp cận nhiều khách hàng hơn. Cuối cùng, việc đào tạo nhân lực cũng rất quan trọng để nâng cao năng lực quản trị và phục vụ khách hàng tốt hơn.

3.1. Đổi mới công nghệ và dịch vụ

Đổi mới công nghệ là một trong những yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh của VCB. Ngân hàng cần đầu tư vào các hệ thống công nghệ hiện đại để cải thiện trải nghiệm của khách hàng. Việc phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử và thanh toán trực tuyến sẽ giúp VCB thu hút thêm khách hàng và tăng cường vị thế trên thị trường.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ VAI TRÒ CỦA NHTM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. Khái quát về sự phát triển của NHTM trong nền kinh tế thị trường.

Quan hệ hàng hóa – tiền tệ là cơ sở hình thành và phát triển các tổ chức Ngân hàng [21]. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, từ trao đổi hàng hóa giản đơn, đến trao đổi hàng hóa với tiền đúc cổ đại, các ngân hàng cổ đại đã hình thành. Ngân hàng hiện đại thực sự xuất hiện ở một số quốc gia Âu châu từ thế kỷ XVII. Ngày nay Ngân hàng đã trở thành hệ thống liên kết toàn cầu, với đầy đủ các chức năng và nghiệp vụ, đáp ứng mọi nhu cầu của cư dân, doanh nghiệp và các tổ chức trong nền kinh tế thị trường[23].

Qui mô của NHTM ngày càng lớn, nghiệp vụ ngày càng đa dạng. Các NHTM sở hữu một khối lượng của cải vật chất đáng kể của từng quốc gia và toàn cầu. Bên cạnh đó các NHTM còn là một doanh nghiệp đáng tin cậy của xã hội. Do vậy những định chế tài chính này không những là nơi lưu ký tài sản, mà còn là chỗ cất giữ các ấn chỉ và các tài liệu quan trọng đặc biệt của các thể nhân và pháp nhân.

Vì vậy chức năng và vai trò của NHTM đã vượt ra ngoài các chức năng vốn có của chúng trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên ở mọi quốc gia nói chung và tại Việt Nam, các văn bản Pháp qui và trên thương trường, các NHTM được qui định và nhìn nhận như một định chế kinh doanh có tính đặc thù, đó là kinh doanh tiền tệ. Ở Việt Nam khái niệm NHTM đã được nêu rõ trong Pháp lệnh ngân hàng năm 1990 và sau đó là Luật “Các tổ chức tín dụng” năm 1997. Luật này được sửa đổi năm 2010 và năm 1917.[23] Nội dung hoạt động của NHTM Việt Nam, đã được nêu rõ trong Luật : Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính hoạt động kinh doanh trên lĩnh 10 luan an vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là huy động vốn, cấp tín dụng, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, cung ứng các dịch vụ thanh toán và nhiều dịch vụ tài chính đa dạng khác có liên quan.

Tại thị trường Việt Nam, Các Ngân hàng thương mại đã phát triển và được xây dựng thành hệ thống với Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam – chịu trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng và các NHTM cùng các tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Những định chế này đủ năng lực quản lý tiền tệ - tín dụng và các dịch vụ ngân hàng trong đời sống kinh tế - xã hội[24]. Chức năng và nghiệp vụ của NHTM.Chức năng của NHTM Trong nền kinh tế thị trường NHTM thực hiện các chức năng sau đây: i. Trung gian tín dụng.

Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM là "cầu nối" giữa Chủ thể có vốn nhàn rỗi và chủ thể có nhu cầu về vốn cho sản xuất – kinh doanh và đầu tư. Chức năng của Ngân hàng thương mại (Nguồn: Giáo trình Thị trường tài chính, NXB Tài chính – 2012) Thông qua nghiệp vụ trung gian tín dụng, NHTM, với vai trò đặc biệt quan trọng, hình thành Quỹ tiền tệ tập trung, để cung ứng vốn kịp thời cho mọi chủ thể cần vốn trong nền kinh tế. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay và người cho vay. Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia : người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay.

Đồng thời với chức năng này NHTM đã tạo nên lợi ích cho nhiều chủ thể trong nền kinh tế : • Với người gửi tiền, họ thu được lợi nhuận từ khoản tiền tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức lãi tiền gửi. Mặt khác, về an ninh tiền tệ. NHTM đảm bảo cho họ sự an toàn về số tiền đã gửi tại NHTM. 11 luan an • Đối với người đi vay – chủ thể thiếu vốn, họ thoả mãn được nhu cầu vốn để kinh doanh và thực hiện các nhu cầu chi cần thiết.

• Với NHTM, sẽ thu được lợi nhuận trong kinh doanh tiền tệ - với tư cách là trung gian tín dụng. Lợi nhuận này là cơ sở để tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại. • Đối với nền kinh tế, chức năng “trung gian tín dụng”có ý nghĩa lớn, đó là tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển. Đồng thời góp phần đảm bảo an ninh tài chính – tiền tệ cho nền kinh tế.

Trung gian tín dụng là chức năng quan trọng nhất của NHTM, nó phản ánh tổng hợp hầu hết các hoạt động của NHTM trong một thời kỳ, đồng thời từ chức năng này không những tạo nên lợi nhuận nhiều nhất cho Ngân hàng, mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và góp phần đảm bảo an ninh tài chính – tiền tệ ở tầm vĩ mô.Trung gian thanh toán. Làm trung gian thanh toán khi NHTM thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng. Các nghiệp vụ thanh toán của khách hàng phát sinh đa dạng, như thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, chuyển tiền…hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng các khoản thu – tiền bán hàng và các khoản thu hợp lệ, hợp pháp khác theo lệnh của chủ tài khoản. Thực hiện chức năng này NHTM đóng vai trò là "thủ quỹ" cho các chủ tài khoản và thực hiện theo lệnh của họ.

NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán, cũng là thực hiện chức năng trung gian tín dụng. Vì khi “ghi CÓ” cho khách hàng, đó là nguồn vốn NHTM tạo lập được. Còn “ghi NỢ” là khoản NHTM giảm bớt nguồn vốn… Thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa lớn, không những đối với nền kinh tế, mà còn đối với khách hàng và chính các NHTM. Với chức năng này, các NHTM đã cung cấp cho khách hàng phương tiện thanh toán kịp thời.

Qua đó các chủ thể kinh tế tiết kiệm được chi phí, thời gian đồng thời đảm bảo an toàn trong giao dịch. 12 luan an Thông qua chức năng này, NHTM đã góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hoá – dịch vụ, đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Đồng thời, việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ, giảm chi phí lưu thông xã hội, mang lại lợi ích lớn cho nền kinh tế. Hơn thế nữa, thanh toán không dùng tiền mặt còn góp phần quan trọng là cơ sở thực hiện “chức năng tạo tiền” của Hệ Ngân hàng thương mại, đảm bảo nguồn vốn cho nền kinh tế.

Chức năng "tạo tiền". Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, các NHTM có khả năng tạo ra tiền tín dụng, đó là loại tiền ghi sổ. Loại tiền này thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng, tại ngân hàng thương mại. Số tiền này là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch của khách hàng và NHTM.

Từ những khoản tiền dự trữ tăng lên, các NHTM sử dụng để cho vay bằng chuyển khoản, sau đó những khoản tiền này sẽ quay lại NHTM, khi những người sử dụng tiền, gửi vào dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn. Quá trình này tiếp diễn trong hệ thống ngân hàng (quay vòng) và tạo nên một lượng tiền gửi gấp nhiều lần số tiền gửi ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi. Hệ số này, đến lượt nó chịu tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của khách hàng.

Với chức năng "tạo tiền", hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của nền kinh tế. Đặc biệt NHTM đã tạo ra một nguồn vốn lớn, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế. Thông qua chức năng tạo tiền của NHTM, khái niệm và thực tiễn về tiền đã được mở rộng. Tiền trong giao dịch không phải chỉ là tiền mặt – giấy bạc hay tiền kim loại, mà còn bao gồm “tiền ghi sổ” do các NHTM tạo ra.

Tiền ghi sổ do các NHTM tạo ra, ngày nay là một bộ phận không thể thiếu được của mọi nền 13 luan an kinh tế phát triển. Tuy nhiên đây cũng là thách thức đối với qui trình quản lý NHTM của các nhà quản lý ngân hàng và chính phủ các quốc gia[25]. Các chức năng của NHTM trong nền kinh tế thị trường, có mối quan hệ chặt chẽ. Chúng tạo tiền đề, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, tạo điều kiện để NHTM phát triển.

Trong các chức năng trên, trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất. Chức năng này hỗ trợ và tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Nếu NHTM thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền, đây sẽ là tiền đề tăng nguồn vốn, mở rộng hoạt động tín dụng của NHTM.Nghiệp vụ của NHTM. Ngân hàng thương mại là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa.

Sự phát triển, hoàn thiện và đa dạng hóa các nghiệp vụ của định chế này, là do sự phát triển và đòi hỏi của nền kinh tế thị trường. Ngày nay nền kinh tế hàng hóa ở nhiều quốc gia phát triển đã ở mức hoàn thiện, vì vậy nghiệp vụ của các NHTM cũng đạt trình độ tương đương. Những nghiệp vụ của NHTM về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu của mọi pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế. Mặc dù ở các thị trường với các trình độ khác nhau, nhưng tên gọi và nội dung các nghiệp vụ của NHTM vẫn chưa thay đổi nội dung và tên gọi truyền thống.

Vì vậy trong Luận án này tác giả vẫn đề cập đến các nghiệp vụ vốn có của NHTM, đó là : i. Nghiệp vụ huy động vốn. Huy động vốn là nghiệp vụ theo đó NHTM tập hợp các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, hình thành quĩ tiền tệ tập trung, để sử dụng theo mục đích được xác định. Huy động vốn là nghiệp vụ nhận tiền gửi.

Khoản tiền này đa dạng về sở hữu – pháp nhân, thể nhân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTMCP Ngoại thương Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế về tài chính ngân hàng" của tác giả Vũ Thị Thu Hương, dưới sự hướng dẫn của GS. Phan Văn Tính, trình bày những thách thức và cơ hội mà Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phải đối mặt trong quá trình hội nhập tài chính quốc tế. Bài viết không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao vị thế của Vietcombank trong thị trường tài chính toàn cầu. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về chiến lược phát triển ngân hàng trong bối cảnh toàn cầu hóa, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn quản lý và phát triển ngân hàng.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như "Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Vietcombank", nơi phân tích quản lý rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Vietcombank, hay "Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam", bài viết này cung cấp cái nhìn sâu sắc về hoạt động thanh toán quốc tế trong ngân hàng thương mại. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Á Châu", một nghiên cứu về cải thiện chất lượng dịch vụ ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh và phát triển trong ngành ngân hàng.