CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Hệ thống ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của một nền kinh tế và giữ vai trò huyết mạch trong hệ thống tài chính của một quốc gia nhưng các hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng lại rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương bởi nhiều tác động vi mô, vĩ mô và trong chính nội bộ các ngân hàng. Mức độ dễ tổn thương càng tăng lên cùng với sự phát triển của một nền kinh tế và tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại. Rủi ro luôn tiềm ẩn trong các ngân hàng và nếu như chúng ta không nhận dạng, tìm hiểu nguyên nhân và hậu quả để từ đó quản lý trong tầm kiểm soát thì sẽ dẫn đến sự sụp đổ của một nền kinh tế. Cho đến ngày nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về rủi ro của các ngân hàng và nhìn chung có thể phân thành 4 loại rủi ro chính: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá.1 Rủi ro tín dụng Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng thì rủi ro tín dụng được định nghĩa như sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.” Như vậy rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của các ngân hàng và biểu hiện qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn.
Hiện nay, hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng rất đa dạng như cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán… và mỗi hình thức đều phải đối mặt với rủi ro tín dụng ở mức 5 độ khác nhau. Kể cả hoạt động mua lại các loại trái phiếu của doanh nghiệp cũng không tránh khỏi loại rủi ro này. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng rất đa dạng, nhưng xét ở góc độ các chủ thể tham gia thì rủi ro tín dụng xuất phát từ các nguyên nhân sau: • Từ phía khách hàng : khả năng tự chủ tài chính kém, năng lực điều hành yếu, hệ thống quản trị kinh doanh không hiệu quả dẫn đến việc sử dụng vốn vay kém hiệu quả hoặc thất thoát quá nhiều, ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ. Nhưng cũng có thể do sự thiếu thiện chí, không minh bạch của khách hàng trong việc vay nợ, trả nợ hoặc xin gia hạn nợ.
• Từ phía ngân hàng: sự thiếu giám sát, đạo đức và năng lực yếu kém của cán bộ tín dụng cùng với quy trình cho vay thiếu chặt chẽ của các ngân hàng. Nhiều cán bộ ngân hàng hiện nay hoặc do thiếu kinh nghiệm nên dẫn đến thiếu sót trong quy trình cho vay hoặc cố tình vi phạm để đạt chỉ tiêu tín dụng gây thiệt hại cho các ngân hàng. Bên cạnh đó, chính sách và quy trình cho vay của các ngân hàng thiếu chặt chẽ, chưa chú trọng đến hoạt động giám sát việc sử dụng vốn của khách hàng, chưa có quy trình quản trị rủi ro hữu hiệu; công tác phân tích khách hàng để tính toán điều kiện cho vay và khả năng trả nợ còn nhiều bất cập, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm chứ chưa áp dụng công cụ chấm điểm tín dụng, chấm điểm tín dụng nhưng đánh giá không chính xác khả năng trả nợ của khách hàng. • Do các yếu tố khách quan như lũ lụt, thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự thay đổi về chính sách quản lý kinh tế của nhà nước…khiến khách hàng lâm vào tình trạng khó khăn tài chính khó trả nợ cho ngân hàng.
Hậu quả của rủi ro tín dụng rất nặng nề vì đây là hoạt động kinh doanh chính của các ngân hàng. Khi rủi ro tín dụng xảy ra, các ngân hàng không thu hồi được nợ sẽ dẫn đến việc mất cân đối thu chi từ đó làm mất khả năng thanh khoản và dẫn đến khả năng phá sản. Với sự liên kết của các ngân hàng hiện nay thì tác động lan 6 truyền sẽ dẫn đến sự phá sản dây chuyền của các ngân hàng khác và làm sụp đổ hệ thống tài chính của các nền kinh tế. Khi một ngân hàng gặp quá nhiều rủi ro tín dụng hoặc bị phá sản, người gửi tiền sẽ hoang mang và đi rút tiền không chỉ ở ngân hàng đó mà còn ở các ngân hàng khác.
Tình trạng rút tiền số lượng lớn sẽ gây khó khăn tài chính cho các ngân hàng và từ đó làm sụp đổ hệ thống tài chính rồi dẫn đến khủng hoảng kinh tế, nạn thất nghiệp tràn lan và gây nhiều bất ổn cho xã hội.2 Rủi ro thanh khoản “Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện khi ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của các ngân hàng là phải duy trì khả năng thanh khoản đầy đủ đồng nghĩa với việc hoặc các ngân hàng có sẵn lượng vốn khả dụng trong tay hoặc có thể dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn vay mượn bên ngoài với chi phí hợp lý, hoặc sở hữu một số tài sản có khả năng chuyển đổi ra tiền nhanh để đáp ứng nhu cầu vốn trước mắt. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản rất nhiều nhưng có thể xem xét ở các nguyên nhân sau: • Nguyên nhân khách quan: Thay đổi trong chính sách tiền tệ của NHNN qua việc sử dụng các công cụ như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất trần, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu…; tin đồn thất thiệt từ một số phần tử có uy tín về tình hình hoạt động của ngân hàng dẫn đến việc rút tiền ồ ạt; sự thay đổi kênh đầu tư của các nhà đầu tư và hiệu ứng dây chuyền trong tâm lý khách hàng. Tiền gửi của khách hàng rất nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất.
Khi lãi suất của một số kênh đầu tư tăng thì khách hàng sẽ rút tiền để đầu tư vào các lĩnh vực có khả năng sinh lời cao hơn. Như vậy, rủi ro thanh khoản cũng chịu sự tác động của rủi ro lãi suất. 7 • Nguyên nhân chủ quan: ngân hàng sử dụng quá nhiều các khoản vay mượn ngắn hạn để đầu tư dài hạn và chiến lược quản trị thanh khoản không phù hợp, kém hiệu quả như nắm giữ các loại chứng khoán có tính thanh khoản thấp, dự trữ không đủ cho nhu cầu chi trả… Rủi ro thanh khoản đe dọa đến uy tín và lợi nhuận của ngân hàng. Trong tình huống xấu nhất có thể làm cho ngân hàng phá sản và từ đó lan sang các ngân hàng khác, gây tổn hại nghiêm trọng đến nền kinh tế.
Khi một ngân hàng để xảy ra tình trạng thiếu hụt thanh khoản thì sẽ làm mất lòng tin của người gửi tiền từ đó dẫn đến việc rút tiền với số lượng lớn và cũng khó khăn hơn trong việc huy động vốn, từ đó ngân hàng phải huy động vốn với lãi suất cao hơn, gia tăng chi phí đầu vào và càng làm tình hình tài chính chuyển biến xấu hơn.3 Rủi ro lãi suất “Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng.” (Trần Huy Hoàng, 2011, trang 263) Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro lãi suất là: • Sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản và nợ: nếu ngân hàng huy động vốn ngắn hạn để cho vay hoặc đầu tư dài hạn thì nếu lãi suất tăng trong ngắn hạn, rủi ro sẽ thành hiện thực. Còn nếu ngân hàng huy động dài hạn để cho vay hoặc đầu tư ngắn hạn thì nếu lãi suất giảm trong những năm tiếp theo, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện. • Ngân hàng áp dụng các loại lãi suất khác nhau trong quá trình huy động vốn và cho vay: nếu ngân hàng huy động với lãi suất cố định và cho vay với lãi suất biến đổi thì ngân hàng sẽ gặp thiệt hại khi lãi suất giảm. Còn nếu ngân hàng huy động với lãi suất biến đổi và cho vay với lãi suất cố định thì khi lãi suất tăng, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện và gây thiệt hại cho ngân hàng.
8 • Do tỷ lệ lạm phát dự kiến không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực tế: Lãi suất cho vay danh nghĩa = Lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát dự kiến Nếu tỷ lệ lạm phát thực nhỏ hơn tỷ lệ lạm phát dự kiến thì ngân hàng sẽ hưởng lợi nhiều hơn nhưng ngược lại tỷ lệ lạm phát thực lớn hơn tỷ lệ lạm phát dự kiến thì ngân hàng sẽ gặp bất lợi. Từ những nguyên nhân trên có thể thấy rủi ro lãi suất sẽ làm tăng chi phí nguồn vốn của ngân hàng, làm giảm thu nhập từ tài sản của ngân hàng và cũng làm giảm giá trị thị trường của tài sản và vốn chủ sở hữu.4 Rủi ro tỷ giá “Rủi ro tỷ giá hối đoái trong hoạt động ngân hàng là rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay ngoại tệ hoặc quá trình kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng.” (Trần Huy Hoàng, 2011, trang 250) Hiện nay các ngân hàng có 2 hoạt động liên quan đến ngoại hối có thể phát sinh rủi ro là kinh doanh ngoại tệ trên thị trường ngoại hối hay còn gọi là hoạt động ngoại tệ ngoại bảng và hoạt động huy động vốn và đầu tư vào tài sản bằng ngoại tệ hay còn gọi là hoạt động ngoại tệ nội bảng. Dù cho hoạt động ngoại tệ ngoại bảng hay nội bảng thì rủi ro tỷ giá sẽ xuất hiện khi trạng thái ngoại hối của ngân hàng không cân xứng kết hợp với diễn biến ngoại hối không có lợi; hoặc do khả năng dự báo tỷ giá yếu kém trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng. Hậu quả của rủi ro này là làm giảm thu nhập, giảm giá trị tài sản của ngân hàng và nếu kéo dài trong thời gian dài sẽ gây khó khăn tài chính cho ngân hàng.