Chương 1: TỔNG QUAN VỀ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là tổ chức được thành lập theo qui định của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận (Trầm Thị Xuân Hương và Hoàng Thị Minh Ngọc, 2013). Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh tiền tệ và các hoạt động khác có liên quan, bao gồm hoạt động huy động vốn, hoạt động cấp tín dụng, hoạt động đầu tư, hoạt động thanh toán qua ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác.1 Khái niệm Hiệu quả hoạt động kinh doanh Hiệu quả là phạm trù phản ánh sự thay đổi công nghệ, sự kết hợp và phân bổ hợp lý các nguồn lực, trình độ lành nghề của lao động, trình độ quản lý… nó phản ánh mối quan hệ so sánh được giữa kết quả kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó (Nguyễn Việt Hùng, 2008). Theo định nghĩa trên, ta có thể hiểu hiệu quả là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào để đạt được mục tiêu đã đề ra. Theo Giáo trình Quản trị Kinh doanh Tổng hợp, hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó (Ngô Đình Giao, 1997).
Xét theo quan điểm trên, ta có thể xem xét hiệu quả hoạt động kinh doanh trên góc độ mối tương quan tuyệt đối và mối tương quan tương đối: Xét hiệu quả hoạt động kinh doanh theo góc độ tương quan tuyệt đối thì: Hiệu quả hoạt động kinh doanh = kết quả kinh tế đạt được - chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó 5 Xét hiệu quả hoạt động kinh doanh theo góc độ tương quan tương đối thì: Hiệu quả hoạt động kinh doanh = kết quả kinh tế đạt được / chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng Trong hoạt động của ngân hàng thương mại, hiệu quả có thể được hiểu ở 2 khía cạnh như sau: - Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. - Xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng. Sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng có quan hệ chặt chẽ với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Do đó, sự biến động của nó sẽ ảnh hưởng rất mạnh đến các ngành kinh tế khác.
Quan điểm về hiệu quả là đa dạng, tùy theo mục đích nghiên cứu có thể xét hiệu quả theo những khía cạnh khác nhau. Trong luận văn này, tác giả chỉ đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại theo quan điểm mối quan hệ tối ưu giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Xét theo góc độ tương quan tuyệt đối thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng tương đương: Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí Nó cho phép đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng theo cả chiều rộng và chiều sâu. Tuy nhiên, chỉ tiêu này có thể không phù hợp trong trường hợp khi so sánh hiệu quả hoạt động kinh doanh giữa những ngân hàng không cùng quy mô, vì những ngân hàng với quy mô lớn thường tạo ra lợi nhuận lớn hơn những ngân hàng có quy mô nhỏ.
Nhưng như vậy, ta không thể đánh giá ngân hàng có quy mô nhỏ hoạt động không hiệu quả bằng ngân hàng có quy mô lớn. Do đó, hiệu quả tuyệt đối không cho chúng ta biết được khả năng sử dụng tiết kiệm hay lãng phí các nguồn lực đầu vào. Xét theo góc độ tương quan tương đối thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng tương đương với chỉ tiêu về tỷ suất sinh lời như tỷ lệ thu nhập trên tổng 6 tài sản (ROA), tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) và một số chỉ tiêu hổ trợ như tỷ lệ thu nhập trên cổ phiếu (EPS), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NM)… Chỉ tiêu này rất thuận tiện để so sánh hiệu quả giữa các ngân hàng với các quy mô khác nhau, với các thời kỳ khác nhau. Xét về bản chất, ngân hàng thương mại cũng như các đơn vị kinh tế khác trong nền kinh tế, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ với mục tiêu cao nhất là lợi nhuận.
Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại còn được xem xét dựa trên chất lượng tài sản, các yếu tố đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng, thị phần… Do đó, lợi nhuận và các tiêu chí liên quan đến lợi nhuận là các chỉ tiêu để các nhà đầu tư đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ngày nay.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM 1.1 Lợi nhuận ròng Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như đánh giá sự phát triển bền vững của một ngân hàng. Những ngân hàng hoạt động kém hiệu quả sẽ gây ra những thua lỗ, nắm giữ những khoản nợ xấu kém thanh khoản và cuối cùng là mất khả năng thanh toán (Trần Huy Hoàng, 2011). Lợi nhuận của ngân hàng là khoản chênh lệch được xác định giữa tổng thu nhập phải thu trừ đi tổng các khoản chi phí phải trả hợp lý hợp lệ. Lợi nhuận trước thuế = Tổng thu nhập – Tổng chi phí Lợi nhuận ròng = Lợi nhuận trước thuế – Thuế thu nhập doanh nghiệp Với thu nhập của ngân hàng bao gồm: - Thu từ hoạt động kinh doanh gồm: thu từ hoạt động tín dụng; thu lãi tiền gửi; thu dịch vụ; thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng; thu lãi góp vốn, mua cổ phần; thu từ hoạt động mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; thu từ hoạt động mua bán nợ; thu về chênh lệch tỷ giá; thu từ hoạt động kinh doanh khác.
7 - Thu khác gồm: thu từ việc nhượng bán, thanh lý tài sản cố định; thu về các khoản vốn đã được xử lý bằng dự phòng rủi ro; thu kinh phí quản lý đối với các công ty thành viên độc lập; thu tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng; các khoản thu khác (Trần Huy Hoàng, 2011). Và chi phí của ngân hàng là số phải chi phát sinh trong kỳ cho hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác theo quy định, bao gồm: - Chi phí hoạt động kinh doanh: chi phí phải trả lãi tiền gửi, lãi tiền vay; chi về kinh doanh ngoại hối và vàng; chi cho hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng; chi cho việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; chi cho hoạt động mua bán nợ; chi cho hoạt động góp vốn, mua cổ phần; chi về chênh lệch tỷ giá theo qui định tại chuẩn mực kế toán; chi cho thuê tài sản, chi phí khấu hao tài sản cố định sử dụng cho hoạt động kinh doanh thực hiện theo chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định hiện hành; chi phí tiền lương, tiền công và chi phí có tính chất lương theo quy định; chi các khoản đã hạch toán doanh thu nhưng thực tế không thu được; chi phí dịch vụ mua ngoài như chi phí thuê sửa chữa tài sản cố định, vận chuyển, điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, phòng cháy chữa cháy, tư vấn, kiểm toán, tiền mua bảo hiểm tài sản, tiền mua bảo hiểm tai nạn con người, chi công tác phí, chi phụ cấp tàu xe đi nghỉ phép theo qui định, chi hoa hồng, đại lý môi giới, uỷ thác và các dịch vụ khác, chi phí hoa hồng môi giới, ủy thác và các dịch vụ khác; chi phí nộp thuế, phí, tiền thuê đất phải nộp có liên quan đến hoạt động kinh doanh, dịch vụ (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp) theo qui định của pháp luật; chi phí khác. - Chi phí hoạt động khác: chi nhượng bán, thanh lý tài sản; giá trị còn lại của tài sản cố định khi thanh lý, nhượng bán; chi cho việc thu hồi các khoản nợ đã xoá, chi phí thu hồi nợ quá hạn khó đòi; chi tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế; chi xử lý khoản tổn thất tài sản còn lại sau khi đã bù đắp bằng các nguồn theo quy định; các khoản chi hợp lý, hợp lệ khác (Trần Huy Hoàng, 2011). Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, lợi nhuận hay hiệu quả tuyệt đối không phải là tiêu chí thường được áp dụng để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại.
Bên cạnh đó, với mục tiêu đảm bảo an toàn cho hoạt động 8 ngân hàng, khi đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại, chúng ta cần phân tích chỉ tiêu lợi nhuận trong một mối quan hệ với các tiêu chí quản lý khác, chẳng hạn như quy mô tổng tài sản, quy mô vốn chủ sở hữu… Lợi nhuận hay hiệu quả tuyệt đối chỉ là cơ sở để chúng ta có những phân tích sâu hơn bằng các chỉ tiêu liên quan đến lợi nhuận. Về mặt lý thuyết, giá trị thị trường (hay thị giá) của cổ phiếu là chỉ số tốt nhất phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của công ty bởi vì nó thể hiện sự đánh giá của thị trường đối với công ty đó. Tuy nhiên, chỉ số này thường không đáng tin cậy trong lĩnh vực ngân hàng. Lý do là hầu hết cổ phiếu ngân hàng, đặc biệt là cổ phiếu của các ngân hàng nhỏ không được giao dịch tích cực trên thị trường quốc tế cũng như thị trường trong nước (Peter S.
Thực tế này buộc các nhà phân tích tài chính phải sử dụng các tỷ lệ về khả năng sinh lời thay thế cho chỉ số giá trị thị trường để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Các tỷ lệ quan trọng nhất đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng được sử dụng hiện nay bao gồm tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM).