Mở đầu Tác giả sẽ trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu đồng thời trong chương này chúng tôi còn xác định rõ đối tượng 5 nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài và các phương pháp chủ yếu được sử dụng gồm có nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về thanh khoản của ngân hàng thương mại Tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về thanh khoản và rủi ro thanh khoản. và tập hợp tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Tác giả đã tiến hành thành lập các biến nghiên cứu từ đó đưa ra mô mình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu.
Tiếp theo đó sẽ chuẩn bị dữ liệu cần thu thập cho nghiên cứu và phương pháp phân tích xử lý số liệu. Chương 4: Phân tích kết quả Tác giả đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra các kết quả nghiên cứu. Từ đó so sánh và đối chiếu kết quả với những nghiên cứu trước đồng thời so sánh kết quả nghiên cứu với giả thuyết ban đầu. Trong quá trình tiến hành nghiên cứu chúng tôi đã đưa ra những đánh giá hạn chế của nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận Sau khi kết thúc quá trình nghiên cứu thu được kết quả, ở chương 5 tác giả đã đưa ra những kết luận và kiến nghị góp phần giúp các nhà quản lý điều hành hoạt động NHTM đạt hiệu quả cao nhất. 6 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm thanh khoản trong ngân hàng thương mại Thanh khoản trong ngân hàng thương mại là khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn hoặc đến mức tối đa và bằng đơn vị tiền tệ được quy định của giao dịch. Vì khi thực hiện bằng tiền mặt, thanh khoản sẽ chỉ liên quan đến các dòng luân chuyển tiền tệ và việc không thể hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản của ngân hàng. Theo Uỷ ban Giám sát Ngân hàng Basel (2000) đã định nghĩa khả năng thanh khoản của một ngân hàng hay còn gọi là khả năng đáp ứng nguồn vốn cho sự tăng lên của các tài sản có và thanh toán các khoản nợ khi đến hạn thanh toán.
Basel (2008) thì cho rằng thanh khoản là khả năng ngân hàng có thể tài trợ cho việc gia tăng của các tài sane và đáp ứng được các khoản nợ đến hạn mà không gây ra các khoản tổn thất của ngân hàng mà không thể chấp nhận được. Vậy nên, thanh khoản ngân hàng là một trong các yếu tố rất quan trọng trong việc thể hiện được khả năng kinh doanh của ngân hàng và sự duy trì phát triển lâu dài của ngân hàng. Nguyễn Văn Tiến (2012) định nghĩa thanh khoản là khả năng ngân hàng sẽ đáp ứng được đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ về tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao dịch ngân hàng như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các hoạt động giao dịch tài chính khác. Về thanh khoản của ngân hàng có hai khía cạnh mà ngân hàng cần phải đặc biệt quan tâm là thanh khoản tự nhiên và thanh khoản nhân tạo.
Trong đó, thanh khoản tự nhiên là các dòng tiền lưu chuyển xuất phát từ tài sản hoặc nợ nhưng có thời gian đáo hạn theo luật định. Một khi giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng được tái tục, có thể với cùng một số tiền nhỏ hoặc lớn hơn thì nhìn chung nhóm khách hàng này thường hành động gần như theo cách có thể dự 7 đoán được. Điều này không chỉ đúng với các tài sản mà còn đúng với các khoản nợ. Còn thanh khoản nhân tạo lại được tạo ra thông qua khả năng chuyển tài sản thành tiền mặt trước ngày đáo hạn.
Ở đây có thể thấy hầu như lúc nào cũng có thể dễ dàng chuyển một chứng khoán cụ thể thành tiền mặt, đặc biệt nếu vẫn còn công ty nào muốn chuyển chứng khoán thành tiền mặt thì thị trường vẫn còn khả năng chấp nhận các giao dịch. Ngoài ra, thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản và nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh. Một nguồn vốn để được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. Còn một tài sản được gọi là có tính thanh khoản cao là khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh.
Trong thực tế thì những tài sản có tính thanh khoản cao bao gồm các giấy tờ có giá như: Trái phiếu kho bạc, thương phiếu, hối phiếu…và những tài sản có tính thanh khoản thấp là bất động sản, dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị… Việc đảm bảo được khả năng thanh khoản của ngân hàng là hoạt động cực kỳ quan trong đối với ngân hàng. Vì sự ảnh hưởng của thanh khoản nếu không được kiểm soát tốt thì sẽ gây ra ảnh hưởng rất lớn đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nước nhà nói chung.2 Cung cầu và trạng thái thanh khoản 2.1 Cung thanh khoản (luồng tiền vào) Cung thanh khoản là khả năng ngân hàng cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản của khách hàng và là các khoản vốn sẽ làm gia tăng khả năng chi trả của ngân hàng. Cung thanh khoản bao gồm: Các khoản tiền gửi đang đến: Đây là nguồn cung quan trọng nhất của NH. Các ngân hàng đều tìm nhiều cách để gia tăng nguồn cung này, để thực hiện được điều này các NH các đã thực hiện các biện pháp như: tăng lãi suất huy động kèm theo các dịch vụ, các kênh đầu tư khác có mức lãi suất đầu tư thấp hơn thì nguồn cung của huy động cũng được tăng lên.
8 Bán các khoản dịch vụ: Ngân hàng thực hiện thu phí đối với các nghiệp vụ như bảo lãnh, mở L/C hay thanh toán các dịch vụ chuyển tiền quốc tế, trong nước. Thực hiện thu hồi các khoản tín dụng đã duyệt: Đây được coi là nguồn cung quan trọng thứ hai của cung thanh khoản sau các khoản tiền gửi. Hoạt động chính của ngân hàng là hoạt động tín dụng, vì vậy việc thu hồi các khoản tín dụng đã duyệt sẽ mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng. Một khi các khoản tín dụng được thanh toán đúng hạn thì sẽ mang lại nguồn cung lớn và sẽ hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ hiệu quả.
Bán các tài sản ngân hàng đang kinh doanh và sử dụng: ngân hàng chuyển hóa các tài sản thành tiền để đáp ứng được các nhu cầu thanh khoản. Vay mượn từ thị trường tiền tệ cũng là một cách để tăng cung thanh khoản và các giao dịch này sẽ được thực hiện giữa các NHTM với nhau hoặc giữa NHTM với NHNN.2 Cầu thanh khoản (luồng tiền ra) Ngân hàng có nghĩa vụ đáp ứng cầu thanh khoản khi khách hàng có nhu cầu thanh khoản. Các hoạt động tạo ra cầu thanh khoản như: khách hàng rút các khoản tiền gửi, đề nghị vay vốn của khách hàng, thanh toán các khoản phải trả khác, chi phí cho quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng và thanh toán cổ tức cổ đông. Đối với ngân hàng thì cầu thanh khoản có hai bộ phận quan trọng là: nhu cầu rút tiền và vay tiền của khách hàng, nhu cầu rút tiền của khách hàng sẽ gắn liền với số tiền huy động được, còn nhu cầu vay tiền của khách hàng là việc tạo ra sản phẩm mới cho ngân hàng.
Cầu thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì các hoạt động sau đây sẽ tạo ra được cầu về thanh khoản: Khách hàng rút các khoản tiền gửi: Xảy ra hàng ngày tại ngân hàng và ngân hàng luôn phải đảm bảo một khoản dự trữ nhất định để đáp ứng nhu cầu thanh toán từ các nguồn tiền gửi không kì hạn và các nguồn tiền gửi thanh toán 9 của khách hàng giao dịch trực tiếp và trực tuyến. Khi lạm phát xảy ra hoặc có sự chênh lệch lãi suất giữa các ngân hàng thì cũng sẽ làm gia tăng cầu thanh khoản. Khách hàng yêu cầu cấp các khoản tín dụng có chất lượng cao: Một nhân tố tác động đáng kể đến cầu thanh khoản của ngân hàng.
Khi các doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư thì doanh nghiệp sẽ yêu cầu ngân hàng cấp các khoản tín dụng cao hơn mức hiện tại hoặc khi có sự chênh lệch lãi suất giữa các ngân hàng thương mại. Hoàn trả các khoản vay: Ngân hàng có trách nhiệm trả các khoản vay từ các cá nhân, tổ chức tín dụng và NHNN khi đến hạn. Kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ có phát sinh chi phí: Ngân hàng thực hiện trả lãi huy động, trả lãi phát hành giấy tờ có giá mà ngân hàng đã huy động trước đây đến hạn NH phải thanh toán cho khách hàng. Thanh toán cổ tức cho các cổ đông: Ngân hàng phải trả cho các cổ đông của mình khi đến kỳ.
Xét về thời gian thì nhu cầu thanh khoản của ngân hàng bao gồm ngắn hạn và dài hạn. Nhu cầu thanh khoản ngắn hạn sẽ có tính tức thời. Các khoản tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi có kỳ hạn đến hạn, các công cụ huy động thuộc thị trường tiền tệ nằm trong phạm vi nhu cầu thanh khoản ngắn hạn. Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản thuộc loại này, đòi hỏi NH phải duy trì ở mức độ khá lớn các loại tài sản có tính thanh khoản cao (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại ngân hàng trung ương (NHTW) và các định chế tài chính khác, chứng khoán chính phủ.3 Trạng thái thanh khoản ròng (Net Liquidity Position-NLP) Thanh khoản ròng được tính theo công thức: NLP = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản Theo lý thuyết thì ta thấy trạng thái thanh khoản ròng được tính dựa trên phần chênh lệch giữa tổng cung thanh khoản và tổng cầu thanh khoản tại một thời điểm.
Nếu cầu thanh khoản vượt quá cung thanh khoản, ngân hàng sẽ phải đối mặt với trạng thái thâm hụt thanh khoản, nói cách khác ngân hàng đang thiếu hụt tiền để chi trả. Để tiếp tục tồn tại, ngân hàng phải xác định bổ sung thanh khoản 10 ngay từ nguồn nào và với chi phí bao nhiêu nhằm giúp ngân hàng trở lại trại thái cân bằng thanh khoản. Ngược lại, tình trạng cung thanh khoản vướt qua cầu thanh khoản có thể xảy ra.