Chuyên đề thực tập các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam giai đoạn 20132021

Tài liệu nghiên cứu Chuyên đề thực tập các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại cổ, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên ngành

Toán kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

chuyên đề tốt nghiệp

2022

49
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO THANH KHOẢN

1.1. Ngành ngân hàng ở Việt Nam

1.2. Cơ sở lý thuyết về rủi ro thanh khoản

1.2.1. Lý thuyết về rủi ro thanh khoản

1.2.2. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản

1.2.2.1. Nguyên nhân từ bên trong
1.2.2.2. Nguyên nhân bên ngoài

1.2.3. Các nguyên tắc của Basel về quản lý thanh khoản

2. CHƯƠNG 2: DỮ LIỆU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Dữ liệu nghiên cứu

2.2. Mô hình và phương pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

4.1. Kết quả đạt được từ bài nghiên cứu và hàm ý quản trị cho các Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam

4.2. Hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu mới

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản là một trong những rủi ro nghiêm trọng nhất trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt là đối với các ngân hàng thương mại cổ phần. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2013-2021. Các yếu tố như tình hình tài chính, quản lý rủi ro, và biến động thị trường được xem xét kỹ lưỡng để đánh giá tác động của chúng đến thanh khoản ngân hàng.

1.1. Cơ sở lý thuyết về rủi ro thanh khoản

Theo Uy ban Basel, rủi ro thanh khoản được định nghĩa là rủi ro mà một định chế tài chính không đủ khả năng đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng rủi ro thanh khoản có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán và thậm chí là phá sản ngân hàng. Các nguyên nhân rủi ro bao gồm cả yếu tố nội bộ như chiến lược quản lý rủi ro không hiệu quả và yếu tố bên ngoài như biến động thị trườngchính sách tài chính.

1.2. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản

Các nguyên nhân rủi ro được chia thành hai nhóm chính: nội bộ và bên ngoài. Từ phía nội bộ, chiến lược quản lý rủi ro không hiệu quả và sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ là những yếu tố chính. Bên ngoài, biến động thị trường, chính sách tài chính, và tình hình kinh tế cũng ảnh hưởng đáng kể đến thanh khoản ngân hàng. Đặc biệt, dịch Covid-19 đã gây ra những tác động lớn đến rủi ro thanh khoản trong giai đoạn nghiên cứu.

II. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu từ các báo cáo tài chính hợp nhất của 29 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2013-2021. Các chỉ số tài chính như tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng nguồn vốn (CAP), và tỷ lệ cho vay/tổng tài sản (LTA) được sử dụng để đo lường rủi ro thanh khoản. Phương pháp hồi quy dữ liệu mảng được áp dụng để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố này.

2.1. Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán của 29 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Các số liệu kinh tế vĩ mô được lấy từ Ngân hàng Thế giớiTổng cục Thống kê. Mẫu nghiên cứu bao gồm 261 quan sát, đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy cao.

2.2. Mô hình nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng các mô hình hồi quy gộp (Pool-OLS), tác động cố định (FEM), và tác động ngẫu nhiên (REM) để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố như quy mô tổng tài sản (SIZE), tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDPG), và tác động của dịch Covid-19 (COVID) đến rủi ro thanh khoản. Các kiểm định như F-testHausman test được sử dụng để lựa chọn mô hình phù hợp.

III. Kết quả nghiên cứu và đánh giá

Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố như quy mô tổng tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, và tốc độ tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng đáng kể đến rủi ro thanh khoản. Đặc biệt, dịch Covid-19 đã làm gia tăng rủi ro thanh khoản trong giai đoạn 2019-2021. Các chỉ số tài chính như tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng nguồn vốntỷ lệ cho vay/tổng tài sản cũng được xác định là những yếu tố quan trọng trong việc quản lý rủi ro thanh khoản.

3.1. Ảnh hưởng của các yếu tố tài chính

Các yếu tố như quy mô tổng tài sản (SIZE)tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) có tác động tích cực đến thanh khoản ngân hàng. Ngược lại, tỷ lệ cho vay/tổng tài sản (LTA)tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng/tổng dư nợ (LLPTL) có tác động tiêu cực, làm gia tăng rủi ro thanh khoản.

3.2. Tác động của dịch Covid 19

Dịch Covid-19 đã gây ra những tác động lớn đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Sự suy giảm kinh tế và biến động thị trường trong giai đoạn này đã làm gia tăng áp lực thanh khoản, đặc biệt là đối với các ngân hàng có quy mô nhỏ và trung bình.

IV. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc quản lý rủi ro thanh khoản cần được chú trọng hơn trong bối cảnh biến động thị trườngtình hình kinh tế không ổn định. Các ngân hàng thương mại cổ phần cần cải thiện chiến lược quản lý rủi ro, đặc biệt là trong việc cân đối cơ cấu tài sản và nguồn vốn. Các chính sách tài chínhquy định ngân hàng cũng cần được điều chỉnh để hỗ trợ tốt hơn cho việc quản lý rủi ro thanh khoản.

4.1. Khuyến nghị quản lý rủi ro

Các ngân hàng thương mại cổ phần cần xây dựng chiến lược quản lý rủi ro hiệu quả, bao gồm việc đa dạng hóa nguồn vốn và tăng cường quản lý tài sản. Các chỉ số tài chính như tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng nguồn vốntỷ lệ cho vay/tổng tài sản cần được theo dõi chặt chẽ để giảm thiểu rủi ro thanh khoản.

4.2. Hướng nghiên cứu tương lai

Nghiên cứu tương lai có thể tập trung vào việc phân tích sâu hơn về tác động của dịch Covid-19 và các biến động thị trường khác đến rủi ro thanh khoản. Ngoài ra, việc mở rộng mẫu nghiên cứu sang các ngân hàng thương mại khác cũng là một hướng đi tiềm năng để nâng cao tính đại diện của kết quả nghiên cứu.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE RỦI RO THANH KHOẢN 1. Ngành ngân hàng ở Việt Nam 1. Cơ sở lý thuyết về rủi ro thanh khoản 1. Lý thuyết về rủi ro thanh khoản Uy ban Basel (2008) định nghĩa “RRTK là rủi ro mà một định chế tài chính không đủ khả năng tim kiếm đây đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hàng ngày và cũng không gây tác động đến tình hình tài chính".

Từ định nghĩa trên, đến nay có một số định nghĩa khác nhau về rủi ro thanh khoản như: Nguyễn Đăng Don (2010) “Rui ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chỉ trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiễn hoặc không có khả năng vay mượn dé đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán”; Nguyễn Văn Tién (2010) “Rui ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn bô sung với chỉ phí cao hoặc phải bán tài sản với giá trị thấp”. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro thanh khoản nhưng nhưng rủi ro thanh khoản có thể được hiéu là rủi ro khi các ngân hàng không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nao đó, hoặc phải huy động các nguồn vốn với chỉ phí cao dé đáp ứng nhu cau thanh toán, theo đó những hậu quả không mong muốn có thể xảy ra. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản *Nguyên nhân từ bên trong Thứ nhất, do chiến lược quản trị thanh khoản của ngân hàng chưa hiệu quả gây ra sự mat cân đối trong cơ cấu tài sản. Trong danh mục đầu tư vào cô phiếu và trái phiếu, quan trọng nhất là trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc.

Đây là hai danh mục đầu tư có lãi suất không cao nhưng có tính thanh khoản cao, thuận tiện cho việc chiết khấu tại NHTW nếu thanh khoản của ngân hàng có vấn đề. Các NHTM nhỏ khó có thể cạnh tranh với các ngân hàng lớn trong việc đấu thầu các trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc. Thứ hai, do sự không cân xứng về kỳ hạn của Tài sản có và Tài sản nợ. Ngân hàng huy động vốn ngắn hạn từ khách hang dé cho vay các khoản tín dụng và đâu tư dài hạn.

Như vậy, kỳ hạn của Tài sản có dài hơn kỳ hạn của Tài sản nợ Nguyễn Thị Thu Hằng - 11191710 4 Chuyên dé tốt nghiệp — Khoa Toán kinh tế khiến dòng tiền không cân xứng và không đáp ứng việc thanh toán khi đến hạn của Tài sản nợ, khiến Ngân hàng phải tìm nguồn bù đắp. Đối với hệ thống NHTM Việt Nam, NHNN đóng vai trò là người cho vay cuối cùng dé hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng và giữ an toàn cho hệ thống, điều này có thể sẽ làm nảy sinh tâm lý y lại của các ngân hang, do đó không thực sự chú trọng trong việc phòng ngừa các tình huống xấu xảy ra trong thanh khoản. Thứ ba, việc tăng cường và đa dạng các hình thức huy động vốn hoặc khách hàng là rất quan trọng. Nếu khách hàng thuộc lĩnh vực nào đó chiếm phần lớn trong tổng dư nợ hoặc tổng vốn huy động, một khi những khách hàng này gặp khó khăn không trả được nợ hoặc rút von bat ngo dan đến rủi ro thanh khoản.

Thứ tư, do sự cạnh tranh giữa các ngân hàng và ngân hàng tập trung vào những mục tiêu ngắn hạn nên các ngân hàng thường có những chính sách cho vay quá cởi mở, hạ thấp các điều kiện cho vay dẫn đến tình trạng nhiều khách hàng không trả được nợ, dẫn đến rủi ro tín dụng. Thứ năm, do ngân hàng không dự tính được nhu cầu rút tiền của khách hàng trong những trường hợp đặc biệt. Khi nhu cầu rút tiền vượt quá mức sự tính, các ngân hàng này sẽ gặp khó khăn về thanh khoản, thậm chí phá sản. *Nguyên nhân bên ngoài: Thứ nhất, những thay đổi trong điều hành chính sách vĩ mô của Chính phủ, nhất là những thay đổi trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN qua việc thực hiện các công cụ chính sách tiền tệ như: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suắt, tỷ giá, OMO,.

Quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Theo khoản 1 Điều 14 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010, dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước dé thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Nếu tỷ lệ này cao thì sẽ làm cho nguồn cung thanh khoản của các NHTM tăng và ngược lại. Lãi suất chiết khẩu và tái chiết khấu là lãi suất NHTW sử dụng trong chiết khấu hoặc tái chiết khấu các giấy tờ có giá của NHTM. Nếu lãi suất này thấp, tức là chi phí vay tiền từ NHTW rẻ, đây sẽ là nguồn vốn giá rẻ mà các NHTM có thê dé dàng huy động dé đáp ứng nhu cầu thanh khoản.

Nghiệp vụ thị trưởng mở (OMO): Theo Luật Ngan hàng nhà nước 2010 thì Nghiệp vụ thị trường mở là một trong những công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, do ngân hàng Nhà nước thực hiện thông qua việc mua hoặc bán cho Nguyễn Thị Thu Hằng - 11191710 5 Chuyên dé tốt nghiệp — Khoa Toán kinh tế NHTM các giấy tờ có giá được quy định tại Điều 10 Thông tư 42/2015/TT-NHNN. Khi muốn tăng cung tiền, NHTW mua trái phiếu từ các NHTM, số tiền mà NHTW trả cho NHTM làm tăng cung tiền cho nền kinh tế đồng thời cũng làm tăng cung thanh khoản cho NHTM và ngược lại. Thứ hai, do các tài sản tài chính có tính nhạy cảm với sự biến động của lãi suất. Lãi suất thị trường tiền tệ thay đổi làm ảnh hưởng đến nguồn tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng.

Khi lãi suất thị trường tăng, một số khách hàng có xu hướng rút vốn ra khỏi ngân hàng dé dau tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn, còn các khách hàng có nhu cầu vay tiền sẽ tích cực tiếp cận với vốn vay ngân hàng vì lãi suất thấp hon. Tăng cường huy động vốn là phương pháp truyền thống dé dam bảo cung thanh khoản nhưng do lãi suất thị trường tăng nên NHTM nào cũng tăng lãi suất do lo ngại về thanh khoản. Thứ ba, do tình hình kinh doanh của khách hàng. Kinh tế khó khăn dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay bị thua lỗ, không có khả năng trả nợ ngân hàng.

Bên cạnh đó, chu kỳ kinh doanh của khách hàng cũng ảnh hưởng không ít tới thanh khoản của ngân hàng. Vào những tháng cuối năm, các doanh nghiệp đây mạnh hoạt động kinh doanh, quyết toán công nợ, chỉ trả lương thưởng cho nhân viên,. dẫn đến nhu cầu về tiền tăng mạnh; điều này ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng cũng như khả năng đảm bảo nhu cầu thanh khoản của ngân hàng. Thứ tư, do ngân hàng chưa kiểm soát tốt các thông tin tài chính và tin đồn.

Các tin tức về các vụ án liên quan đến Ban lãnh đạo của ngân hàng hoặc các tin đôn thất thiệt về ngân hàng cũng làm cho khách hàng rút tiền hàng loạt do tâm lý lo sợ hoặc tâm lý theo “đám đông”; họ rút tiền ra khỏi ngân hàng và gửi vào ngân hàng khác, hoặc tìm kiếm kênh đầu tư khác dẫn đến tình hình thanh khoản của ngân hàng bị ảnh hưởng, thiệt hại nặng hơn có thé dẫn đến ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng chỉ trả. Các nguyên tắc của Basel về quản lý thanh khoản Lịch sử ra đời của Basel gắn với cuộc khủng hoảng trên thị trường tiền tệ quốc tế vào những năm 1970 - đây là cuộc khủng hoảng gây nên sự sụp đồ của hàng loạt các ngân hàng trên thế giới. Điều này buộc Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS- Bank for International Settlements) phải giám sát, điều tiết hoạt động của các ngân hàng, đặc biệt là quản lý dòng chảy của vốn xuyên quốc gia sau các cuộc khủng hoảng dầu mỏ và khủng hoảng nợ quốc tế xảy ra trong những năm 1970. Nguyễn Thị Thu Hằng - 11191710 6 Chuyên dé tốt nghiệp — Khoa Toán kinh tế Ủy ban Basel đã đưa ra một số nguyên tắc nhằm nâng cao công tác quản lý thanh khoản trong ngân hàng (BIS, 2009) như sau: *Nguyên tắc yêu câu xây dựng cơ cau cho quản lý khả năng thanh khoản trong ngân hàng: Nguyên tắc 1: Mỗi ngân hàng nên có một chiến lược thống nhất đề quản lý thanh khoản thường xuyên, chiến lược này cần được truyền đạt trong toàn tô chức.

Nguyên tắc 2: HĐQT của ngân hàng cần thực hiện những biện pháp đề giám sát, kiếm soát RRTK, kiểm duyệt chiến lược và các chính sách quan trọng liên quan đến quản lý thanh khoản. HĐQT cần được thông báo thường xuyên về tình hình thanh khoản của ngân hàng ngay lập tức nếu có bất kỳ thay đổi quan trọng nào về tình hình thanh khoản hiện tại hoặc tương lai của ngân hàng. Nguyên tắc 3: Cần có một cơ cấu quản lý trong mỗi ngân hàng thực hiện có hiệu quả các chiến lược về thanh khoản. Cơ cấu này bao gồm sự tham gia thường xuyên của các thành viên thuộc HĐQT cấp cao.

Các thành viên này phải đảm bảo rằng tính thanh khoản được quản lý hiệu quả và các chính sách, thủ tục phù hợp được thiết lập để kiểm soát và hạn chế rủi ro thanh khoản. Các ngân hàng nên đặt ra và thường xuyên xem xét các giới hạn về mức độ thanh khoản của họ trong các khoảng thời gian cụ thể. Nguyên tắc 4: Mỗi ngân hàng phải có đầy đủ hệ thống giám sát, kiểm soát và báo cáo rủi ro thanh khoản đề cung cấp kịp thời thông tin cho HĐQT, ban quản lý cap cao của ngân hàng và các cán bộ có thâm quyền khác. *Nguyên tắc về đo lường và giám sát các yêu cầu cấp vốn ròng: Nguyên tắc 5: Mỗi ngân hàng nên thiết lập một quy trình để liên tục đo lường và giám sát các yêu cầu cấp vốn ròng.

Nguyên tắc 6: Các ngân hàng nên phân tích khả năng thanh khoản bằng cách sử dụng nhiêu tình huông “điêu gì xảy ra nêu”. Nguyên tắc 7: Các ngân hàng nên xem xét thường xuyên những giả thiết được sử dụng trong việc quản lý khả năng thanh khoản dé xác định xem giả thiết đó còn giá tri hay không.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 2013-2021 là một nghiên cứu chuyên sâu về các yếu tố tác động đến rủi ro thanh khoản trong hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản, từ đó giúp các nhà quản lý và nhà đầu tư hiểu rõ hơn về cách quản lý và giảm thiểu rủi ro này. Đặc biệt, nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2013-2021, một thời kỳ đầy biến động trong ngành ngân hàng Việt Nam, mang lại những thông tin giá trị cho những ai quan tâm đến lĩnh vực tài chính ngân hàng.

Để mở rộng kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng, bạn có thể tham khảo thêm Các nhân tố tác động đến nợ xấu tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam giai đoạn 2017-2021, nghiên cứu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố gây ra nợ xấu, một vấn đề liên quan mật thiết đến rủi ro thanh khoản. Ngoài ra, Năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam cung cấp cái nhìn tổng quan về sức khỏe tài chính của các ngân hàng, một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá rủi ro. Cuối cùng, Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro phá sản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các rủi ro hệ thống trong ngành ngân hàng.