CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE RỦI RO THANH KHOẢN 1. Ngành ngân hàng ở Việt Nam 1. Cơ sở lý thuyết về rủi ro thanh khoản 1. Lý thuyết về rủi ro thanh khoản Uy ban Basel (2008) định nghĩa “RRTK là rủi ro mà một định chế tài chính không đủ khả năng tim kiếm đây đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hàng ngày và cũng không gây tác động đến tình hình tài chính".
Từ định nghĩa trên, đến nay có một số định nghĩa khác nhau về rủi ro thanh khoản như: Nguyễn Đăng Don (2010) “Rui ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chỉ trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiễn hoặc không có khả năng vay mượn dé đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán”; Nguyễn Văn Tién (2010) “Rui ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn bô sung với chỉ phí cao hoặc phải bán tài sản với giá trị thấp”. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro thanh khoản nhưng nhưng rủi ro thanh khoản có thể được hiéu là rủi ro khi các ngân hàng không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nao đó, hoặc phải huy động các nguồn vốn với chỉ phí cao dé đáp ứng nhu cau thanh toán, theo đó những hậu quả không mong muốn có thể xảy ra. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản *Nguyên nhân từ bên trong Thứ nhất, do chiến lược quản trị thanh khoản của ngân hàng chưa hiệu quả gây ra sự mat cân đối trong cơ cấu tài sản. Trong danh mục đầu tư vào cô phiếu và trái phiếu, quan trọng nhất là trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc.
Đây là hai danh mục đầu tư có lãi suất không cao nhưng có tính thanh khoản cao, thuận tiện cho việc chiết khấu tại NHTW nếu thanh khoản của ngân hàng có vấn đề. Các NHTM nhỏ khó có thể cạnh tranh với các ngân hàng lớn trong việc đấu thầu các trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc. Thứ hai, do sự không cân xứng về kỳ hạn của Tài sản có và Tài sản nợ. Ngân hàng huy động vốn ngắn hạn từ khách hang dé cho vay các khoản tín dụng và đâu tư dài hạn.
Như vậy, kỳ hạn của Tài sản có dài hơn kỳ hạn của Tài sản nợ Nguyễn Thị Thu Hằng - 11191710 4 Chuyên dé tốt nghiệp — Khoa Toán kinh tế khiến dòng tiền không cân xứng và không đáp ứng việc thanh toán khi đến hạn của Tài sản nợ, khiến Ngân hàng phải tìm nguồn bù đắp. Đối với hệ thống NHTM Việt Nam, NHNN đóng vai trò là người cho vay cuối cùng dé hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng và giữ an toàn cho hệ thống, điều này có thể sẽ làm nảy sinh tâm lý y lại của các ngân hang, do đó không thực sự chú trọng trong việc phòng ngừa các tình huống xấu xảy ra trong thanh khoản. Thứ ba, việc tăng cường và đa dạng các hình thức huy động vốn hoặc khách hàng là rất quan trọng. Nếu khách hàng thuộc lĩnh vực nào đó chiếm phần lớn trong tổng dư nợ hoặc tổng vốn huy động, một khi những khách hàng này gặp khó khăn không trả được nợ hoặc rút von bat ngo dan đến rủi ro thanh khoản.
Thứ tư, do sự cạnh tranh giữa các ngân hàng và ngân hàng tập trung vào những mục tiêu ngắn hạn nên các ngân hàng thường có những chính sách cho vay quá cởi mở, hạ thấp các điều kiện cho vay dẫn đến tình trạng nhiều khách hàng không trả được nợ, dẫn đến rủi ro tín dụng. Thứ năm, do ngân hàng không dự tính được nhu cầu rút tiền của khách hàng trong những trường hợp đặc biệt. Khi nhu cầu rút tiền vượt quá mức sự tính, các ngân hàng này sẽ gặp khó khăn về thanh khoản, thậm chí phá sản. *Nguyên nhân bên ngoài: Thứ nhất, những thay đổi trong điều hành chính sách vĩ mô của Chính phủ, nhất là những thay đổi trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN qua việc thực hiện các công cụ chính sách tiền tệ như: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suắt, tỷ giá, OMO,.
Quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Theo khoản 1 Điều 14 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010, dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước dé thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Nếu tỷ lệ này cao thì sẽ làm cho nguồn cung thanh khoản của các NHTM tăng và ngược lại. Lãi suất chiết khẩu và tái chiết khấu là lãi suất NHTW sử dụng trong chiết khấu hoặc tái chiết khấu các giấy tờ có giá của NHTM. Nếu lãi suất này thấp, tức là chi phí vay tiền từ NHTW rẻ, đây sẽ là nguồn vốn giá rẻ mà các NHTM có thê dé dàng huy động dé đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
Nghiệp vụ thị trưởng mở (OMO): Theo Luật Ngan hàng nhà nước 2010 thì Nghiệp vụ thị trường mở là một trong những công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, do ngân hàng Nhà nước thực hiện thông qua việc mua hoặc bán cho Nguyễn Thị Thu Hằng - 11191710 5 Chuyên dé tốt nghiệp — Khoa Toán kinh tế NHTM các giấy tờ có giá được quy định tại Điều 10 Thông tư 42/2015/TT-NHNN. Khi muốn tăng cung tiền, NHTW mua trái phiếu từ các NHTM, số tiền mà NHTW trả cho NHTM làm tăng cung tiền cho nền kinh tế đồng thời cũng làm tăng cung thanh khoản cho NHTM và ngược lại. Thứ hai, do các tài sản tài chính có tính nhạy cảm với sự biến động của lãi suất. Lãi suất thị trường tiền tệ thay đổi làm ảnh hưởng đến nguồn tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng.
Khi lãi suất thị trường tăng, một số khách hàng có xu hướng rút vốn ra khỏi ngân hàng dé dau tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn, còn các khách hàng có nhu cầu vay tiền sẽ tích cực tiếp cận với vốn vay ngân hàng vì lãi suất thấp hon. Tăng cường huy động vốn là phương pháp truyền thống dé dam bảo cung thanh khoản nhưng do lãi suất thị trường tăng nên NHTM nào cũng tăng lãi suất do lo ngại về thanh khoản. Thứ ba, do tình hình kinh doanh của khách hàng. Kinh tế khó khăn dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay bị thua lỗ, không có khả năng trả nợ ngân hàng.
Bên cạnh đó, chu kỳ kinh doanh của khách hàng cũng ảnh hưởng không ít tới thanh khoản của ngân hàng. Vào những tháng cuối năm, các doanh nghiệp đây mạnh hoạt động kinh doanh, quyết toán công nợ, chỉ trả lương thưởng cho nhân viên,. dẫn đến nhu cầu về tiền tăng mạnh; điều này ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng cũng như khả năng đảm bảo nhu cầu thanh khoản của ngân hàng. Thứ tư, do ngân hàng chưa kiểm soát tốt các thông tin tài chính và tin đồn.
Các tin tức về các vụ án liên quan đến Ban lãnh đạo của ngân hàng hoặc các tin đôn thất thiệt về ngân hàng cũng làm cho khách hàng rút tiền hàng loạt do tâm lý lo sợ hoặc tâm lý theo “đám đông”; họ rút tiền ra khỏi ngân hàng và gửi vào ngân hàng khác, hoặc tìm kiếm kênh đầu tư khác dẫn đến tình hình thanh khoản của ngân hàng bị ảnh hưởng, thiệt hại nặng hơn có thé dẫn đến ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng chỉ trả. Các nguyên tắc của Basel về quản lý thanh khoản Lịch sử ra đời của Basel gắn với cuộc khủng hoảng trên thị trường tiền tệ quốc tế vào những năm 1970 - đây là cuộc khủng hoảng gây nên sự sụp đồ của hàng loạt các ngân hàng trên thế giới. Điều này buộc Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS- Bank for International Settlements) phải giám sát, điều tiết hoạt động của các ngân hàng, đặc biệt là quản lý dòng chảy của vốn xuyên quốc gia sau các cuộc khủng hoảng dầu mỏ và khủng hoảng nợ quốc tế xảy ra trong những năm 1970. Nguyễn Thị Thu Hằng - 11191710 6 Chuyên dé tốt nghiệp — Khoa Toán kinh tế Ủy ban Basel đã đưa ra một số nguyên tắc nhằm nâng cao công tác quản lý thanh khoản trong ngân hàng (BIS, 2009) như sau: *Nguyên tắc yêu câu xây dựng cơ cau cho quản lý khả năng thanh khoản trong ngân hàng: Nguyên tắc 1: Mỗi ngân hàng nên có một chiến lược thống nhất đề quản lý thanh khoản thường xuyên, chiến lược này cần được truyền đạt trong toàn tô chức.
Nguyên tắc 2: HĐQT của ngân hàng cần thực hiện những biện pháp đề giám sát, kiếm soát RRTK, kiểm duyệt chiến lược và các chính sách quan trọng liên quan đến quản lý thanh khoản. HĐQT cần được thông báo thường xuyên về tình hình thanh khoản của ngân hàng ngay lập tức nếu có bất kỳ thay đổi quan trọng nào về tình hình thanh khoản hiện tại hoặc tương lai của ngân hàng. Nguyên tắc 3: Cần có một cơ cấu quản lý trong mỗi ngân hàng thực hiện có hiệu quả các chiến lược về thanh khoản. Cơ cấu này bao gồm sự tham gia thường xuyên của các thành viên thuộc HĐQT cấp cao.
Các thành viên này phải đảm bảo rằng tính thanh khoản được quản lý hiệu quả và các chính sách, thủ tục phù hợp được thiết lập để kiểm soát và hạn chế rủi ro thanh khoản. Các ngân hàng nên đặt ra và thường xuyên xem xét các giới hạn về mức độ thanh khoản của họ trong các khoảng thời gian cụ thể. Nguyên tắc 4: Mỗi ngân hàng phải có đầy đủ hệ thống giám sát, kiểm soát và báo cáo rủi ro thanh khoản đề cung cấp kịp thời thông tin cho HĐQT, ban quản lý cap cao của ngân hàng và các cán bộ có thâm quyền khác. *Nguyên tắc về đo lường và giám sát các yêu cầu cấp vốn ròng: Nguyên tắc 5: Mỗi ngân hàng nên thiết lập một quy trình để liên tục đo lường và giám sát các yêu cầu cấp vốn ròng.
Nguyên tắc 6: Các ngân hàng nên phân tích khả năng thanh khoản bằng cách sử dụng nhiêu tình huông “điêu gì xảy ra nêu”. Nguyên tắc 7: Các ngân hàng nên xem xét thường xuyên những giả thiết được sử dụng trong việc quản lý khả năng thanh khoản dé xác định xem giả thiết đó còn giá tri hay không.