Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về tín dụng cá nhân 2. Khái niệm và đặc điểm của tín dụng cá nhân 2.
Khái niệm • Tín dụng ngân hàng Tín dụng xuất phát từ gốc chữ Latinh: tín tức là tin tưởng, tín nhiệm. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng được hiểu là sự vay mượn. Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (tiền tệ hoặc hiện vật) từ chủ thể sở hữu sang chủ thể sử dụng trên cơ sở phải có sự hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu. Trong thực tế họat động tín dụng rất phong phú và đa dạng, nó thỏa mãn nhu cầu chi trả của các chủ thể trong nền kinh tế khi chủ thể đó thiếu hụt nguồn tài chính tạm thời.
Theo Hồ Diệu (2001), tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc có hoàn trả. Theo Nguyễn Thị Mùi (2008), tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hóa, có quá trình ra đời tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Như vây, tín dụng có một quá trình tồn tại và phát triển lâu dài qua nhiều hình thái kinh tế, với nhiều hình thức khác nhau, song đều có tính chất quan trọng như sau: - Tín dụng trước hết chỉ là sự giao chuyển quyền sử dụng một số tiền (hiện kim) hoặc tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, không làm thay đổi quyền sở hữu chúng. - Tín dụng có thời hạn và phải được “hoàn trả”.
- Giá trị của tín dụng được nâng cao nhờ vào lợi tức mà tín dụng mang lại. • Tín dụng cá nhân Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu tiếp cận khái niệm tín dụng cá nhân dựa trên khái niệm về tín dụng ngân hàng. Tín dụng cá nhân được định nghĩa là hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho KHCN hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhất 6 định, phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ SXKD dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể (Nguyễn Ngọc Lê Ca, 2011). Ở nước ngoài, khái niệm tín dụng cá nhân được các nhà nghiên cứu đánh giá là một khái niệm rất rộng và có ý nghĩa không rõ ràng (Marjo Hörkkö, 2010).
Theo Marjo Hörkkö (2010) tín dụng cá nhân là những khoản vốn được cấp để phục vụ mua bán hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng hoặc kinh doanh của các hộ đăng ký kinh doanh cá thể. Tín dụng cá nhân được cấp bởi các ngân hàng, tổ chức tài chính, tín dụng, các công ty thẻ tín dụng và cửa hàng thương mại. Như vậy, TDCN là khoản vay dành cho khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể dùng để phục vụ đời sống tiêu dùng và sản xuất kinh doanh dưới hình thức kinh doanh nhỏ lẻ.2 Đặc điểm của tín dụng cá nhân Tín dụng cá nhân có nhiều khác biệt so với tín dụng doanh nghiệp. Những khác biệt này cũng phản ánh đặc điểm của tín dụng cá nhân, cụ thể như sau: Mục đích vay của KHCN gồm: Thứ nhất, các cá nhân, hộ gia đình vay với mục đích bổ sung vốn cho hoạt động kinh doanh.
Quyền hoạt động SXKD của cá nhân, hộ gia đình được luật pháp thừa nhận, nhưng do năng lực hạn chế nên hoạt động kinh doanh thường mang quy mô nhỏ. Thứ hai, cá nhân vay vốn cho nhu cầu chi tiêu. Khoản vay của KHCN cho mục đích này để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cho cuộc sống như:xây dựng, sửa chữa nhà, đầu tư hoặc mua nhà đất, mua sắm vật dụng gia đình.… Số tiền cho vay hai mục đích này đều bị giới hạn bởi những điều kiện từ NH đó là: tính hợp lý của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ của chủ thể và TSĐB. Tín dụng cá nhân có số lượng là rất lớn là do: - KHCN chiếm số lượng lớn do đối tượng của loại hình cho vay này là tất cả cá nhân trong xã hội, từ những người có thu nhập trung bình, thấp đến những người có thu nhập cao.
7 - Nhu cầu vay của cá nhân rất đa dạng, vì khi chất lượng cuộc sống của cá nhân tăng lên và trình độ học vấn của họ được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay NH để cải thiện mức sống. Vai trò của tín dụng cá nhân • Đối với ngân hàng Tín dụng cá nhân giúp NH tăng cường mối quan hệ với khách hàng, từ đó NH có thể mở rộng các hoạt động bán chéo với KHCN như tăng khả năng huy động tiền gửi, dịch vụ thanh toán, bảo hiểm, dịch vụ thẻ, máy cà thẻ, tư vấn. Đây là kênh tiếp thị hiệu quả đối với NH, tăng khả năng cạnh tranh giành thị phần trên thị trường tài chính. Tạo điều kiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của NH, nhờ đó nâng cao lợi nhuận và phân tán rủi ro NH.
Các khoản vay của khách hàng cá nhân tuy có quy mô nhỏ nhưng số lượng lại khá lớn, vì vậy tổng quy mô tài trợ cũng rất lớn. Đồng thời, lãi suất áp dụng đối với KHCN thường cao hơn với KHDN để bù đắp chi phí cho vay nên các khoản vay cá nhân đóng góp một phần lợi nhuận rất lớn trong tổng lợi nhuận của NH. Trước đây các Ngân hàng TMCP lớn không quan tâm đến mảng tín dụng cá nhân mà chỉ tập trung vào tín dụng doanh nghiệp. Nhưng khi kinh nền kinh tế có biến động thì các doanh nghiệp này sẽ bị ảnh hưởng làm cho khả năng trả nợ của đối tượng này sẽ trở nên khó khăn, nợ xấu của NH sẽ gia tăng.
Đối với các ngân hàng nhỏ hoặc mới thành lập, việc cạnh tranh lôi kéo KHDN lớn với các NH tiềm lực mạnh rất khó khăn. Đồng thời, nguồn lực của những NH này thường không đủ đáp ứng nhu cầu vốn cho những khách hàng lớn. Do đó, mảng tín dụng KHCN strở nên tiềm năng đối với các NH. Hiện nay, các NH lớn bắt đầu thay đổi quan điểm về cho vay và bắt đầu tập trung vào phân khúc KHCN làm cho tín dụng phân khúc này ngày càng trở nên cạnh tranh, việc thẩm định KH đơn giản hơn, hạ thấp các điều kiện tín dụng để cạnh tranh ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
Một số Ngân hàng TMCP nhỏ đã điều chuyển phân khúc tín dụng sang tập trung tín dụng cá nhân mang lại lợi nhuận rất cao như: Ngân hàng TMCP VP Bank, 8 Ngân hàng TMCP HD Bank, Ngân hàng TMCP Hàng Hải, Ngân hàng TMCP TechcomBank, VIP Bank ., tuy nhiên phân khúc này hiện tại cũng đang có tỷ lệ nợ xấu cao và đang có chiều hướng gia tăng nhanh trong thời gian gần đây. • Đối với khách hàng Đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của khách hàng trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, để chi trả cho những nhu cầu đó thì cá nhân cần thời gian để thực hiện tích lũy. Tín dụng KHCN sẽ giúp khách hàng thỏa mãn nhu cầu, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.
Những trường hợp cần vốn gấp, lãi suất cho vay của NH hợp lý hơn so với lãi suất vay ngoài thị trường. NH căn cứ vào khả năng trả nợ của KH sẽ có những khoản vay tương ứng. Để có được khoản vay thì điều kiện và thủ tục cũng không quá phức tạp. • Đối với nền kinh tế Tín dung giúp gia tăng lưu chuyển vốn, hàng hóa, kích cầu từ đó tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống dân cư, góp phần thực hiện xóa đói giảm nghèo.
xét trên góc độ kinh tế vĩ mô: dịch vụ NHBL trong đó có tín dụng cá nhân đẩy nhanh quá trình lưu chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng lớn trong dân cư để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống người dân, hạn chế dùng tiền mặt và tiết kiệm chi phí , thời gian tiền bạc cho xã hội. Rủi ro tín dụng cá nhân 2.1 Các loại rủi ro tín dụng cá nhân TDCN có rủi ro cao do ngân hàng có ít thông tin mang tính định lượng để làm cơ sở ra quyết định trong quá trình thẩm định cho vay. Những yếu tố quan trọng có tính quyết định đến khả năng hoàn trả nợ vay của KH trong tín dụng cá nhân phần nào mang tính định tính và khó xác định, ví dụ như uy tín, lịch sử trả nợ của khách hàng, khả năng trả nợ (Huỳnh Nguyễn Đức Huy, 2007). Bên cạnh đó, quy trình tín dụng cá nhân đơn giản nên trong quá trình thẩm định tín dụng thường có phát sinh sai sót (Allen và cộng sự, 2004).
Ngày nay, do áp lực cạnh tranh phát triển nên các TCTD hạ điều kiện tín dụng, giảm các quy trình liên quan, thẩm định hồ sơ đơn 9 giản hơn để lôi kéo khách hàng từ TCTD khác làm cho chất lượng tín dụng cũng bị ảnh hưởng rất lơn. Ở Việt Nam hiện nay các quy định dựa trên các văn bản pháp lý của ngân hàng nhà nước (NHNN), theo thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam: “RRTD trong hoạt động NH là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Để phân loại những rủi ro này, việc phân tích RRTD thường phân theo các tiêu chí sau: nguyên nhân phát sinh rủi ro, nguyên nhân khách quan, chủ quan gây ra rủi ro, khả năng trả nợ của khách hàng. • Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro Theo Trần Huy Hoàng (2010), rủi ro giao dịch được phân thành các loại rủi ro như: rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ.
Cụ thể: - Rủi ro lựa chọn: có liên quan đến đánh giá và phân tích tín dụng khi NH lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. - Rủi ro đảm bảo: xuất phát các tiêu chuẩn đảm bảo do các điều khoản trong hợp đồng cho vay hoặc do loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo hoặc do mức cho vay cao hơn so với giá trị của tài sản đảm bảo.