LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết nghiên cứu: Trong kinh doanh của ngân hàng thương mại nội địa thì thu nhập từ hoạt động tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng thu nhập của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, hoạt động này luôn tiềm ẩn một số rủi ro, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế mới nổi như Việt Nam. Tăng trưởng tín dụng nhanh khiến ngành ngân hàng có nguy cơ đối mặt với rủi ro lớn hơn khi tỷ lệ cho vay/tiền gửi toàn ngành luôn ở mức trên 85% - 90%, cao hơn mức trung bình trong khu vực (khoảng 80%).
Thực tiễn họat động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Phú Nhuận TPHCM trong những năm gần đây bộc lộ nhiều yếu kém: thị phần hoạt động ngày càng thu hẹp, lợi nhuận bình quân trên đầu người ngày càng giảm dần, nợ xấu có chiều hướng gia tăng,…. Là cán bộ tín dụng công tác nhiều năm tại Chi nhánh, tôi đã thấy được nguyên nhân ảnh hưởng đến họat động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Phú Nhuận TPHCM trong những năm qua chính là tổn thất từ họat động tín dụng. Xuất phát từ lý do trên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Phú Nhuận TPHCM” nhằm tìm ra những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp để phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, góp phần nâng cao hiệu quả họat động kinh doanh và vị thế của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Phú Nhuận TPHCM. Mục tiêu nghiên cứu: 2.
Mục tiêu chung: Mục tiêu chung của đề tài này là phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Phú Nhuận, TPHCM. Mục tiêu cụ thể: 123doc 2 Mục tiêu 1: Phân tích hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Phú Nhuận. Mục tiêu 2: Đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của Agribank Phú Nhuận. Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Phú Nhuận.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: 3. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là rủi ro tín dụng và các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu thực trạng, phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của Agribank Phú Nhuận. Phƣơng pháp nghiên cứu và thu thập số liệu: 4.
Phương pháp nghiên cứu: Theo các tài liệu đã được công bố, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng. Để phân tích rủi ro tín dụng của Agribank Phú Nhuận, trong đề tài này tác giả sẽ sử dụng phương pháp định lượng và định tính. Nghiên cứu định lượng: Trước tiên, phương pháp thống kê mô tả sẽ được dùng để mô tả mẫu nghiên cứu và phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng tại Agribank Phú Nhuận. Ngoài ra, trong nghiên cứu này tác giả còn sử dụng mô hình xác suất (Probit) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của Ngân hàng.
Mô hình Probit được sử dụng trong nghiên cứu này có dạng như sau: Y =α0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 + β4X4 + β5X5 + β6X6 + ε Trong đó : Y là mức độ rủi ro của các khoản vay được đo lường bằng hai giá trị 1 (có rủi ro) và 0(không có rủi ro). Trong đề tài này, tác giả định nghĩa các khoản vay có 123doc 3 rủi ro là những khoản vay thuộc nhóm nợ xấu (nhóm 3, 4 và 5) và những khoản vay không có rủi ro thuộc nhóm 1 và 2. Các khoản nợ được phân nhóm phù hợp theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và quyết định số 18/2007/QĐ- NHNN ngày25/04/2007 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trong quá trình thu thập mẫu nghiên cứu chúng tôi đã xem xét hiệu chỉnh một số khoản vay được ngân hàng phân loại chưa phù hợp.
Tuy nhiên các trường hợp phải điều chỉnh là không đáng kể. X1, X2, X3, X4, X5, X6 là các biến độc lập (biến giải thích). Các biến này được định nghĩa và diễn giải một cách chi tiết ở Bảng 1.1 : Diễn giải các biến độc lập được sử dụng trong mô hình Stt Biến số Đo lƣờng Kỳ vọng Kinh nghiệm của Số năm người vay làm việc trong Tỷ lệ 1 khách hàng đi vay ngành nghề vay vốn tính đến thời điểm nghịch (X1) vay 2 Khả năng tài chính Vốn tự có tham gia vào phương án, dự Tỷ lệ của khách hàng vay án/tổng nhu cầu vốn của phương án, nghịch (X2) dự án 3 Tài sản đảm bảo (X3) Số tiền vay/tổng trị giá tài sản đảm bảo Tỷ lệ thuận 4 Sử dụng vốn vay (X4) Biến giả, bằng 1 là đúng mục đích, Tỷ lệ bằng 0 là sai mục đích nghịch 5 Kinh nghiệm của cán Số năm trực tiếp làm công tác tín dụng Tỷ lệ bộ tín dụng (X5) nghịch 6 Kiểm tra, giám sát Tổng số lần đã kiểm tra trước khi Tỷ lệ khoản vay (X6) khoản vay chuyển sang nợ xấu/Tổng nghịch thời gian đã vay đến khi khoản vay phát sinh nợ xấu tính theo năm Biến thứ nhất, kinh nghiệm của khách hàng đi vay (X1). Các nghiên cứu về rủi ro tín dụng đã kết luận năng lực quản trị và kinh nghiệm làm trong lĩnh vực 123doc 4 ngành hàng kinh doanh của người vay là những yếu tố quan trọng để thực hiện thành công một dự án, phương án kinh doanh.
Người nhiều kinh nghiệm sẽ có khả năng dự báo những tình huống xấu nhất cũng như có khả năng ứng phó kịp thời những bất trắc xảy ra mà không gây ra hậu quả nặng nề. Trong nghiên cứu này, chúng tôi kỳ vọng rằng những người càng làm lâu trong ngành nghề nào đó thì khả năng thành công càng cao hay kinh nghiệm của người vay tỷ lệ nghịch với rủi ro tín dụng. Biến thứ hai, khả năng tài chính của khách hàng vay (X2), được đo lường bằng tỷ lệ giữa vốn tự có tham gia vào dự án, phương án trên tổng nhu cầu vốn của dự án, phương án đó. Theo các nghiên cứu thì tiềm lực của người vay càng mạnh sẽ làm khả năng chịu đựng rủi ro càng cao.
Vì vậy trong nghiên cứu này chúng tôi kỳ vọng rằng vốn tự có của người vay tham gia vào dự án, phương án càng lớn thì dự án sẽ dễ thành công hơn và rủi ro thấp hơn, hay năng lực tài chính của khách hàng vay tỷ lệ nghịch với rủi ro tín dụng. Biến thứ ba, tài sản đảm bảo của khách hàng vay (X3). Biến số độc lập này được đo lường bằng tỷ số giữa số tiền vay trên giá trị tài sản đảm bảo. Khoản vay có tài sản đảm bảo sẽ chắc chắn hơn và khả năng thu hồi nợ cao hơn vì lúc đó người vay bị ràng buộc nghĩa vụ thanh toán nợ cho ngân hàng, có nghĩa là tỷ số này có quan hệ tỷ lệ thuận với rủi ro tín dụng.
Biến thứ tư, sử dụng vốn vay (X4). Trong tất cả các phương án vay vốn, người vay đều phải ghi rõ mục đích sử dụng vốn vay và sau khi đã phát vay ngân hàng có nhiệm vụ phải kiểm tra việc sử dụng vốn vay này. Mỗi mục đích vay vốn sẽ gắn liền với thời gian và nguồn trả nợ khác nhau. Nếu người vay sử dụng vốn sai mục đích sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ không đúng hạn hay nói cách khác biến này tỷ lệ nghịch với rủi ro tín dụng.
Nghiên cứu này sử dụng biến giả bằng 1 nếu sử dụng vốn đúng mục đích và bằng 0 nếu sử dụng sai mục đích. Biến thứ năm, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng (X5). Nghiên cứu này sử dụng biến giả bằng 1 nếu sử dụng vốn đúng mục đích, bằng 0 nếu sử dụng sai mục đích. Kinh nghiệm của cán bộ tín dụng có ảnh hưởng rất lớn đến rủi ro tín dụng.
123doc 5 Một cán bộ tín dụng có kiến thức và đã công tác lâu năm trong công việc tín dụng có khả năng phân tích tình hình tài chính của người vay, dự báo khó khăn và có thể tư vấn tốt cho người vay. Trong nghiên cứu này, chúng tôi kỳ vọng rằng cán bộ tín dụng càng làm việc lâu năm khi quản lý khoản vay sẽ hạn chế được rủi ro hơn, có nghĩa biến số này tỷ lệ nghịch với rủi ro tín dụng. Biến thứ sáu, kiểm tra, giám sát nợ vay (X6). Một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng là việc kiểm tra, giám sát sau khi cho vay không chặt chẽ.
Chúng tôi đã phải nghiên cứu và suy xét kỹ khi cố gắng định lượng yếu tố này cũng như cách đo lường biến, bởi lẽ khi khoản vay xảy ra rủi ro thì số lần kiểm tra tăng lên. Cuối cùng chúng tôi quyết định đo lường bằng cách lấy tổng số lần đã kiểm tra trước khi khoản vay chuyển sang nợ xấu hoặc đến 31/12/2011 chia cho tổng thời gian đã vay đến khi khoản vay phát sinh nợ xấu hoặc đến 31/12/2011 (tính theo năm) và kỳ vọng rằng nếu số lần kiểm tra càng nhiều thì rủi ro tín dụng càng thấp hay yếu tố kiểm tra, giám sát tỷ lệ nghịch với rủi ro tín dụng. Nghiên cứu định tính : Qua cơ sở lý luận cũng như qua nhiều năm làm việc tại phòng tổng hợp Agribank Phú Nhuận, tôi nhận thấy rủi ro tín dụng xảy ra có rất nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này chúng tôi không có điều kiện để định lượng các yếu tố đó.