CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Giới thiệu chung về ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Ngân hàng là người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu dùng (cá nhân, hộ gia đình) và với hầu hết các cơ quan Chính quyền địa phương (thành phố, tỉnh,. Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp nhỏ ở địa phương, từ người bán rau quả đến người kinh doanh ôtô, ngân hàng là tổ chức cung cấp tín dụng cơ bản phục vụ cho việc mua hàng hóa dự trữ hoặc mua ôtô trưng bày.
Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh tóan cho các khoản mua hàng hóa và dịch vụ, họ thường dùng séc, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử. Và khi cần thông tin tài chính hay cần lập kế họach tài chính, họ thường tìm đến ngân hàng để nhận được lời tư vấn 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Các học thuyết kinh tế khi nghiên cứu về ngân hàng thương mại của các quốc gia trên thế giới có cách nhìn nhận tương đối thống nhất về ngân hàng thương mại như sau: • Ở Mỹ cho rằng: NHTM là một công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và họat động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. • Ở Pháp : đạo luật ngân hàng (1941) cũng đã định nghĩa “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính” 4 Luan van • Ở Việt Nam, Luật số 021997QH10 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam khẳng định: “Ngân hàng là lọai hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ họat động ngân hàng và các họat động kinh doanh khác có liên quan”.
Qua các khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra các kết luận: Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng, trong đó có chức năng chủ yếu là trung gian tín dụng giữa cá doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân. Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ và thực hiện các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian, chuyên kinh doanh tiền tệ bằng nguồn vốn huy động tiền gửi và cung ứng các dịch vụ thanh toán 1. Phân loại ngân hàng thương mại Để phân lọai NHTM người ta dựa vào các tiêu thức sau đây: • Căn cứ vào hình thức sở hữu: - Ngân hàng sở hữu tư nhân: là ngân hàng do chính cá nhân thành lập bằng vốn của chính họ.
Tại Việt Nam vẫn chưa có lọai hình này - Ngân hàng sở hữu nhà nước: là ngân hàng có vốn sở hữu do nhà nước cấp. - Ngân hàng cổ phần: là lọai hình ngân hàng được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần. Trong đó, các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế xã hội và các cá nhân cùng góp vốn kinh doanh. - Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của hai hay nhiều bên.
Ở Việt Nam thì lọai hình này thường được thực hiện giữa ngân hàng trong nước với các ngân hàng nước ngoài để tận dụng ưu thế của nhau. 5 Luan van • Căn cứ vào chiến lược kinh doanh: - Ngân hàng bán buôn: là ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng cho các đối tượng khách hàng là tập đoàn, công ty chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân. - Ngân hàng bán lẻ: là lọai ngân hàng chuyên giao dịch và cung ứng các dịch vụ cho khách hàng là cá nhân. - Ngân hàng vừa bán buôn, vừa bán lẻ: là lọai ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho cả khách hàng công ty và cả các khách hàng cá nhân.
Ở Việt Nam, hầu hết các ngân hàng đều thuộc lọai ngân hàng này 1. Chức năng của các ngân hàng thương mại • Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng và cơ bân nhât của NHTM. Với chức năng này, ngân hàng huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rồi trong nền kinh tế đề tạo lập nguồn vốn cho vay và sử dụng nguồn vốn đó đồ đầu tư vào các nhu cầu khác trong nền kinh tế. Khi thực hiện chức năng này, NHTM đóng vai trò là câu nôi giữa người thừa vôn vả người có nhu câu vê vôn, hay có thề nói ngân hàng vừa “mua'’ tiền vừa “bán’’ tiền, phần tiền chênh lệch giừa giả “bán" giá “mua" chính là bộ phận lớn trong lợi nhuận của ngân hàng thương mại.
công ty công ty * Thu nhận Ngân xí nghiệp tiền gửi xí nghiệp hàng Cấp tín dụng tổ chức * Phát hành kỳ thương tổ chức kinh tế phiếu, trái kinh tế phiếu mại cá nhân cá nhân 6 Luan van Đối với ngân hàng thương mại, chức năng này là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, tạo nguồn vốn để ngân hàng thương mại kinh doanh và tăng thu lợi nhuận, đồng thời là cơ sở để ngân hàng thương mại tạo bút tệ. Đối với khách hàng tiền gửi vừa giúp cho vốn nhàn rỗi tăng khả năng sinh lợi lại vừa đảm bảo an toàn vốn. Đối với khách hàng tiền vay vừa kịp thỏa mãn được nhu cầu vốn tạm thời thiếu hụt trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ và tiêu dùng lại vừa tiết kiệm chi phí, tiết kiệm thời gian tìm kiếm nguồn vốn tiện lợi, an toàn và hợp pháp. • Chức năng trung gian thanh toán Ngân hàng thương mại làm trung gian thanh toán khi nó thưc hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác tùy theo yêu cầu của khách hàng.
Trung gian thanh toán là chức năng quan trọng, không những thể hiện khá rõ bản chất của NHTM mà còn cho thấy tính chất “đặc biệt ” trong họat động của NHTM. Khi thực hiện chức năng này, NHTM đóng vai trò là “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân thực hiện thanh toán theo yêu cầu. Ngân hàng thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện chức năng trung gian tín dụng. Bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi, ngân hàng đã mở cho khách hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi các khoản thu, chi.
Đó chính là tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng, đặt ngân hàng vào vị trí làm trung gian thanh toán. Hơn nữa, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể kinh tế có nhiều hạn chế như rủi ro phải vận chuyển tiền, chi phí thanh toán lớn, đặc biệt là các khách hàng ở cách xa nhau, điều này đã tạo nên nhu cầu khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Ngày nay, các NHTM còn cung cấp nhiều phương thức thanh toán tiện lợi hơn như séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng,…Tùy theo nhu 7 Luan van cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ có chức năng thanh toán này mà các chủ thể kinh tế đã tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian,… lại đảm bảo thanh toán an toàn.
Vô hình chung, chức năng này đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Sơ đồ minh họa chức năng trung gian thanh toán Người trả Người thụ tiền hưởng Người Ngân Người mua bán Lệnh trả tiền hàng chứng từ có ( công ty, qua tài khoản thương ( công ty, doanh mại doanh nghiệp, tổ nghiệp, tổ chức, các chức, các nhân ) nhân ) Đối với NHTM, chức năng trung gian thanh toán góp phần tăng thêm doanh thu cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán. Hơn nữa, chức năng này làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có của tài khoản tiền gửi của khách hàng. • Chức năng tạo ra các công cụ thay thế tiền mặt Các công cụ thay thế tiền mặt mà ngân hàng thương mại tạo ra gồm có: Hồi phiếu, lệnh phiếu, séc,… Ngân hàng thương mại phát hành các giấy tờ có giá và các dịch vụ khác thay cho tiền mặt tạo điều kiện tiết kiệm được nguồn lực cũng như tính an toàn khi lưu thông cho thị trường tiền tệ 8 Luan van 1.
Những hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. Huy động vốn: Các ngân hàng thương mại huy động vốn dưới các hình thức: - Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ và vàng. - Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. - Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức tín dụng nước ngoài.
- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn. - Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Hoạt động tín dụng: Hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại được thực hiện dưới các hình thức: • Cấp tín dụng bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ và vàng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. • Cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình vay vốn dưới các hình thức: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay dài hạn.
• Cho vay theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trong trường hợp cần thiết. Ngân hàng có quyền yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, phương án phục vụ đời sống khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khi quyết 9 Luan van định cho vay.