CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LUẬN VỀ MÔ HÌNH CAMELS TRONG PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM 1. Khái quát về phân tích hoạt động kinh doanh của NHTM 1. Khái niệm Theo luật Các TCTD 2010 do Quốc hội ban hành, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Pháp luật.
NHTM được thực hiện các hoạt động theo quy định tại Chương III Luật các TCTD, Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Luật các TCTD bao gồm việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và một số hoạt động khác. Phân tích hoạt động kinh doanh là một giai đoạn quan trọng của công tác quản trị tại các TCTD. Khái quát chung, đó là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả kinh doanh tại các TCTD nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần khai thác từ đó đề ra các phương án và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Mặt khác, khi một chiến lược mới được đưa vào thực hiện, nhà quản trị cần phải kiểm tra, phân tích để phát hiện những sai lệch so với kế hoạch, xác định nguyên nhân và nhanh chóng khắc phục bằng các biện pháp ngắn hạn và dài hạn (Hồ Thị Như Thủy, 2013).
Phân tích hoạt động kinh doanh của NHTM chính là quá trình đi sâu nghiên cứu nội dung, kết cấu và mối ảnh hưởng qua lại của các nhân tố đến kết quả hoạt động của ngân hàng thông qua các số liệu phản ánh của bộ phận nghiên cứu, kế toán, thống kê,… để làm cơ sở đưa ra quyết định và biện pháp quản lý hiệu quả. Như vậy, việc phân tích hoạt động kinh doanh là một hoạt động tất yếu trong quá trình hoạt động của mỗi ngân hàng. Mặt khác, thông tin từ các chỉ tiêu phân tích hoạt động kinh doanh cung cấp cho mọi đối tượng quan tâm các dữ liệu cần thiết đóng vai trò như cơ sở khoa học để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn. Cụ thể: Với nhà quản trị ngân hàng: Việc phân tích hoạt động kinh doanh giúp họ hình dung được khá đầy đủ và chính xác quy mô hoạt động, chất lượng kinh doanh, tốc độ phát triển và tính bền vững ổn định trong các hoạt động của ngân hàng.
11 Với các nhà đầu tư: Các chỉ tiêu phản ánh hoạt động kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn, tài sản và mức lợi nhuận là cơ sở để các nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư thêm hay rút vốn nhằm đảm bảo an toàn vốn, giảm thiểu rủi ro và thu về lợi nhuận cao nhất. Với các cơ quan giám sát: Phân tích hoạt động kinh doanh của các NHTM là công cụ để nắm rõ thực trạng tài chính và có biện pháp quản lý, điều chỉnh cũng như thực hiện giám sát từ xa đối với hệ thống NHTM. Trên phạm vi vĩ mô, phân tích hoạt động của các NHTM giúp cho cơ quan lãnh đạo tiền tệ thực hiện tốt chính sách tiền tệ quốc gia, tạo điều kiện ổn định và tăng trưởng kinh tế. Cơ sơ phân tích hoạt động kinh doanh của các NHTM Các nhà quản trị ngân hàng dựa trên nguồn thông tin thu thập từ các báo cáo đáng tin cậy, từ đó áp dụng các phương pháp đánh giá và đưa ra nhận định về kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
Cụ thể: Báo cáo quản trị nội bộ ngân hàng: Là các báo cáo đầy đủ, chi tiết và cập nhật tình hình hoạt động của ngân hàng. Những báo cáo này được tổng hợp nhằm phục vụ cho các nhà quản trị trong việc đánh giá hoạt động kinh doanh và đưa ra các giải pháp kịp thời. Báo cáo thống kê ngân hàng: Là các báo cáo do các TCTD phải gửi cho NHNN nhằm phục vụ cho chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ của NHNN. Các chỉ tiêu báo cáo bao gồm: Tín dụng, Huy động vốn, Lãi suất, Thanh toán và Ngân quỹ, Hoạt động ngoại hối, Góp vốn mua cổ phần, Thị trường tiền tệ, Giám sát, bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD.
Báo cáo tài chính ngân hàng: Là báo cáo hoàn thiện và đầy đủ về thông tin tình hình tài chính, kinh doanh và các luồng tiền của một TCTD. Báo cáo này nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo TCTD, cơ quan quản lý nhà nước và phục vụ nhu cầu của người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Ngoài thông tin từ các loại báo cáo trên, nhà quản trị có thể tận dụng từ các nguồn dữ liệu bên ngoài như thông tin tổng hợp từ Ngân hàng nhà nước với những báo cáo tổng hợp về các chính sách điều hành và tác động đến nền kinh tế qua các năm hay phân tích về sự biến động của ngành ngân hàng trước diễn biến của khủng hoảng tài chính quốc tế,…; nguồn thông tin từ Tổng cục thống kê với bản tổng hợp 12 chỉ tiêu kinh tế từ các ngành nghề, lĩnh vực và thông cáo báo chí tình hình kinh tế - xã hội từng quý,. cùng thông tin từ các tổ chức tài chính quốc tế như Tổ chức xếp hạng đánh giá tín nhiệm quốc tế Moody's hay Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng là những nguồn dữ liệu đáng tin cậy.
Các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh của NHTM a. Phương pháp phân tích truyền thống Phương pháp phân tích truyền thống sử dụng các chỉ số được tính toán từ các số liệu trên báo cáo tài chính; thông qua đó đánh giá, phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Hệ số tài chính sử dụng bao gồm: các chỉ số phản ánh khả năng sinh lời, tỷ số phản ánh hoạt động kinh doanh và các hệ số phản ánh rủi ro tài chính ngân hàng,. Cụ thể: Các chỉ số phản ánh khả năng sinh lời: Đánh giá về thu nhập, Đánh giá về chi phí, Đánh giá về khả năng sinh lời Các chỉ số đánh giá về Thu nhập: Tốc độ tăng trưởng Thu nhập, Tỷ trọng từng khoản thu nhập Các chỉ số đánh giá về Chi phí: Tốc độ tăng trưởng Chi phí, Tỷ trọng từng khoản chi phí, các chỉ số phản ánh Quy mô, chất lượng Tài sản – Nguồn vốn Các chỉ số đánh giá về Tài sản: Quy mô và tốc độ tăng trưởng tổng tài sản, Cơ cấu tài sản sinh lời Các chỉ số phản ánh rủi ro: Rủi ro thanh khoản, Rủi ro lãi suất, Rủi ro ngoại hối Phương pháp đánh giá hoạt động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu tài chính có ưu điểm là đơn giản, dễ hiểu.
Tuy nhiên, phương pháp này chỉ dừng lại ở việc thống kê số liệu và tính toán các chỉ tiêu đơn giản, phản ánh một khía cạnh trong hoạt động của NHTM một cách rời rạc mà không thể hiện rõ mối tương quan với nhau. Vì vậy, để khắc phục được nhược điểm này có thể áp dụng mô hình CAMELS trong phân tích hoạt động kinh doanh. Mô hình CAMELS được coi là chuẩn mực đối với hầu hết các tổ chức trên toàn thế giới khi đánh giá hiệu quả hoạt động, rủi ro của các ngân hàng nói riêng và các TCTD nói chung gồm 6 chỉ tiêu: An toàn vốn (C), Chất lượng tài sản (A), Năng lực quản lý (M), Khả năng sinh lời (E), Khả năng thanh khoản (L) và Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (S). Phương pháp phân tích hiện đại Việc phân tích theo các phương pháp phân tích hiện đại chủ yếu dựa trên các mô hình để đánh giá, xếp hạng các TCTD và có những ưu, nhược điểm nhất định.
Tiêu biểu có mô hình PEARLS - một hệ thống được sử dụng trong hoạt động giám sát đối với tổ chức tài chính quy mô nhỏ. Mô hình này được Hiệp hội Tín dụng Quốc tế (WOCCU) nghiên cứu từ cuối những năm 1980. Nó được coi là công cụ cần thiết cho các cơ quan quản lý trong hoạt động giám sát nhằm đánh giá, cảnh báo và xếp hạng các tổ chức tài chính và các tiêu chuẩn đánh giá có mối liên quan chặt chẽ với nhau, đánh giá chỉ tiêu này phải xem xét mức độ ảnh hưởng của chỉ tiêu khác và ngược lại. Mỗi chỉ số có định mức bảo đảm an toàn hoặc các mục tiêu liên quan khác nhau.
Các tiêu chuẩn chính xác cho mỗi chỉ số được đưa ra bởi Hội đồng Thế giới của các hiệp hội tín dụng dựa trên kinh nghiệm thực tế của mình về việc tăng cường và hiện đại hoá các TCTD và thúc đẩy tăng trưởng tiết kiệm. Từ đó người gửi tiền có thể an tâm về các TCTD đáp ứng các tiêu chuẩn xuất sắc về mức độ an toàn và lành mạnh. Mô hình PEARLS bao gồm nhiều chỉ tiêu, với P – Protection (Chỉ tiêu đảm bảo an toàn); E – Effective Financial Structure (Chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính hiệu quả); A – Asser Quality (Chất lượng tài sản có); R – Rate of Return and Costs (Thu nhập và Chi phí); L – Liquidity (Khả năng thanh toán) và S – Signs of Growth (Dấu hiệu của sự tăng trưởng). Trong đó, mỗi chỉ tiêu lại có các khoản mục chỉ tiêu nhỏ hơn với các mức tiêu chuẩn đánh giá cụ thể.
PEARLS là hệ thống đánh giá phù hợp cho việc khai thác số liệu đầu vào và tình hình khai thác thông tin tài chính. Về mục tiêu khi đánh giá hoạt động kinh doanh của TDTC qua mô hình PEARLS: Công cụ Quản lý điều hành: Giám sát hoạt động của TCTD là mục đích sử dụng quan trọng nhất của hệ thống PEARLS. Nó được thiết kế như một công cụ giúp các nhà quản lý tìm ra giải pháp có ý nghĩa với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng của tổ chức. So sánh thứ hạng: Việc sử dụng kết hợp hệ thống kế toán chuẩn và các chỉ số PEARLS tạo ra bảng xếp hạng TCTD.
14 Tạo điều kiện cho việc điều hành giám sát: Ngoài tính hữu dụng của nó như là một công cụ quản lý, hệ thống PEARLS cung cấp khuôn khổ giám sát và phân tích hàng quý hoặc hàng tháng tại các Hiệp hội tín dụng quốc gia. Mô hình PEARLS chủ yếu sử dụng các chỉ số định lượng thì CAMELS sử dụng cả chỉ số định lượng và định tính. Thêm nữa, PEARLS đánh giá cơ cấu tài chính của bảng cân đối tài sản.