phần mở đầu, kết luận và các danh mục tài liệu tham khảo, bảng biểu và sơ đồ, nội dung của khóa luận đƣợc kết cấu gồm ba chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lý luận hoạt động Marketing trong kinh doanh Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng II: Thực trạng hoạt động Marketing trong hoạt động kinh doanh tại Vietinbank Nhị Chiểu Chƣơng III: Những giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động Marketing tại Vietinbank Nhị Chiểu 5 z CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MARKETING TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại Trong nền kinh tế hàng hóa, có nhiều công ty, đơn vị tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Tất cả đều góp phần thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển. Trong đó các Ngân hàng thƣơng mại hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng.
Hoạt động của NHTM trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ đƣợc coi là một loại định chế tài chính đặc biệt của nền kinh tế thị trƣờng. “Ngân hàng thƣơng mại” là loại hình ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phƣơng tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tƣợng nói trên. Theo Điều 4 luật số 47/2010/QH12 luật các tổ chức tín dụng Việt Nam khẳng định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thƣơng mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
Có thể nói rằng NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trƣờng. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ đƣợc huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân để phát triển kinh tế xã hội. Bản chất của thƣơng mại NHTM là một loại hình doanh nghiệp và là một đơn vị kinh tế, bởi vì NHTM hoạt động trong một ngành kinh tế, có cơ cấu tổ chức bộ máy nhƣ một doanh nghiệp bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác, phải tự chủ về kinh tế và phải có nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nƣớc nhƣ các đơn vị kinh tế khác. Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh.
Để hoạt động kinh doanh các NHTM phải có vốn, phải tự chủ về tài chính; đặc biệt hoạt động kinh doanh cần đạt đến mục tiêu tài chính cuối cùng là lợi nhuận, hoạt động kinh doanh của NHTM cũng không nằm ngoài xu hƣớng đó. Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây là lĩnh vực “đặc biệt” vì trƣớc hết nó liên quan trực tiếp đến cả các ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội và mặt khác lĩnh vực tiền tệ ngân hàng là lĩnh vực “nhạy cảm” nó đòi hỏi một sự thận trọng và khéo léo trong điều hành hoạt động ngân hàng để tránh những thiệt hại cho xã hội. Tóm lại, NHTM là loại hình định chế tài chính trung gian hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, góp phần tạo lập và cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển.
Chức năng của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Trung gian tín dụng Trung gian tín dụng là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của NHTM, nó không những cho thấy bản chất của NHTM mà còn cho thấy nhiệm vụ chính yếu của NHTM. Trong chức năng “trung gian tín dụng” NHTM đóng vai trò là ngƣời trung gian đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm 7 z thời nhàn rỗi trong nền kinh tế biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh,vốn đầu tƣ cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội.1: Sơ đồ chức năng trung gian tín dụng Công ty, xí Ngân hàng Công ty, xí Nhận tiền gửi, Cho vay, cung cấp nghiệp, tổ chức thƣơng mại nghiệp, tổ chức, tiết kiệm dịch vụ ngân hàng kinh tế, cá nhân cá nhân 1.2 Trung gian thanh toán Đây là chức năng quan trọng, không những thể hiện khá rõ bản chất của NHTM mà còn cho thấy tính chất “đặc biệt” trong hoạt động của NHTM. Khi trong nền kinh tế chƣa có hoạt động ngân hàng hoặc mới có những hoạt động sơ khai (nhận bảo quản tiền đúc) thì các khoản giao dịch thanh toán giữa những ngƣời sản xuất kinh doanh và các đối tƣợng khác đều đƣợc thực hiện một cách trực tiếp, ngƣời trả tiền và ngƣời thụ hƣởng tự chi trả bằng tiền mặt. Nhƣng khi NHTM ra đời và hoạt động trong nền kinh tế, thì dần dần các khoản giao dịch thanh toán giữa các đơn vị và cá nhân đều đƣợc thực hiện qua hệ thống ngân hàng.
NHTM đứng ra làm trung gian để thực hiện các khoản giao dịch thanh toán giữa các khách hàng, giữa ngƣời mua, ngƣời bán, … để hoàn tất các quan hệ kinh tế thƣơng mại giữa họ với nhau.2: Sơ đồ chức năng trung gian thanh toán Ngƣời trả tiền- Ngân hàng Ngƣời thụ hƣởng- Lệnh trả tiền Giấy báo có ngƣời mua(Cty, xí thƣơng mại ngƣời bán(Cty, xí qua tài khoản nghiệp, tổ chức nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân) kinh tế, cá nhân) 8 z 1.3 Cung ứng dịch vụ ngân hàng Thực hiện chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán vốn đã mang lại những hiệu quả to lớn cho nền kinh tế xã hội. Nhƣng nếu chỉ dừng lại ở đó thì chƣa đủ, các NHTM cần đáp ứng tất cả các nhu cầu của khách hàng có liên quan đến hoạt động ngân hàng. Các dịch vụ gắn liền với hoạt động ngân hàng không những cho phép NHTM thực hiện tốt yêu cầu của khách hàng, mà còn hỗ trợ tích cực để NHTM thực hiện tốt hơn chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán của mình. Trên đây là các chức năng của NHTM, các chức năng này có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau.
Nếu các ngân hàng đều chú trọng tất cả các chức năng này thì không những làm cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn, tỷ suất lợi nhuận cao hơn, mà còn có khả năng phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Phối hợp hài hòa và coi trọng cả ba mảng hoạt động : tín dụng, thanh toán và dịch vụ ngân hàng thì các NHTM sẽ có cơ hội đứng vững hơn trong cuộc chạy đua trên thị trƣờng. Nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại 1.1 Nghiệp vụ nguồn vốn Nghiệp vụ nguồn vốn là nghiệp vụ nhằm tạo lập nguồn vốn hoạt động của NHTM. Nguồn vốn của NHTM bao gồm những loại nguồn vốn sau : • Vốn chủ sở hữu (vốn riêng) Nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn khởi đầu và đƣợc bổ sung trong quá trình hoạt động.
Vốn chủ sở hữu của NHTM gồm : * Vốn điều lệ : đây là vốn đƣợc tạo lập ban đầu khi mới thành lập NHTM và đƣợc ghi vào điều lệ của ngân hàng. Vốn điều lệ phải đạt mức tối thiểu theo quy định của pháp luật. Vốn điều lệ đƣợc sử dụng trƣớc hết để xây 9 z dựng mua sắm tài sản cố định, các phƣơng tiện làm việc và quản lý, tức tạo ra cơ sở vật chất cho hoạt động của ngân hàng. Ngoài ra các NHTM còn đƣợc sử dụng vốn điều lệ để hùn vốn liên doanh, cấp vốn cho các công ty trực thuộc và các hoạt động kinh doanh khác.
* Các quỹ của ngân hàng: NHTM cũng là một tổ chức kinh tế, vì vậy các NHTM đều đƣợc quyền trích lập các quỹ nhƣ các đơn vị kinh tế khác, để sử dụng cho những mục đích nhất định. Ngoài ra, NHTM hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, là một lĩnh vực đặc biệt nên hầu hết hệ thống luật ngân hàng ở các nƣớc đều cho phép các NHTM đƣợc trích lập “quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ”, thông thƣờng quỹ này đƣợc trích theo tỷ lệ quy định từ lợi nhuận ròng hàng năm. Các quỹ của NHTM bao gồm : quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ (quỹ dự trữ), quỹ đầu tƣ phát triển, quỹ dự phòng, quỹ khen thƣởng phúc lợi, … • Vốn huy động : Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu (bao gồm của pháp nhân và thể nhân) mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng. Đây là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng vì nó không những chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của các ngân hàng mà còn là nguồn tiền nhàn rỗi của xã hội đƣợc huy động và tập trung để sử dụng có hiệu quả cho các yêu cầu của nền kinh tế xã hội.
Vốn huy động theo tính chất đƣợc phân loại thành hai nhóm : * Nhóm 1 : Vốn huy động hoạt kỳ, bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế cá nhân, tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức tín dụng khác. Đây là loại tiền gửi mà theo tính chất của nó, khách hàng đƣợc linh hoạt sử dụng. Các đơn vị, cá nhân gửi tiền vào tài khoản này không nhằm mục đích hƣởng lãi, mà nhằm phục vụ nhu cầu giao dịch thanh toán cho chính mình. 10 z * Nhóm 2: Vốn huy động định kỳ, bao gồm tiền gửi định kỳ, tiền gửi tiết kiệm của cá nhân, tổ chức, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, …Đặc điểm của loại nguồn vốn này là khách hàng chỉ đƣợc rút tiền khi đáo hạn (tuy nhiên trong điều kiện bình thƣờng, các ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút trƣớc hạn.
Đối với vốn huy động định kỳ, ngƣời gửi tiền có mục đích xác định là hƣởng lãi. Vì vậy họ sẽ chọn ngân hàng nào có lãi suất cao hơn, chứ không đòi hỏi hệ thống dịch vụ hiện đại nhƣ đối với nguồn vốn hoạt kỳ. • Vốn đi vay : Vốn đi vay chiếm vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của NHTM, nhƣng đồng thời là nguồn vốn mang ý nghĩa thiết lập sự cân bằng trong cân đối và sử dụng vốn của mỗi NHTM.