mở đầu, tính cấp thiết của đề tài, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Lý luận tổng quát về mô hình quản lý rủi ro của ngân hàng thƣơng mại cổ phần Chƣơng 2: Thực trạng mô hình quản lý rủi ro tại Chi nhánh Ngân hàng thƣơng mại cổ phần đầu tƣ và phát triển Hà Tĩnh. Chƣơng 3: Hoàn thiện mô hình và xây dựng các giải pháp quản lý rủi ro tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và phát triển Hà tĩnh. 5 z Chƣơng 1 LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỦI RO TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN 1.1 Hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần trong nền kinh tế thị trƣờng Ngân hàng thƣơng mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá.
Sự phát triển hệ thống ngân hàng thƣơng mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngƣợc lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trƣờng thì NHTM cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu đƣợc. Khái niệm ngân hàng thƣơng mại: Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trƣng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Ngân hàng thƣơng mại cổ phần là các ngân hàng hoạt động kinh doanh, thƣơng mại theo mô hình cổ phần và tuân theo các luật riêng của Chính phủ và các quy chế, quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam khi hoạt động.
Gọi là ngân hàng thƣơng mại cổ phần để phân biệt với các ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc và ngân hàng thƣơng mại liên doanh và chi nhánh ngân hàng thƣơng mại nƣớc ngoài tại Việt Nam 6 z 1.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm rủi ro, phân loại rủi ro Khái niệm: Từ việc nghiên cứu về đặc điểm hoạt động kinh doanh của các NHTM nói trên có thể nhận thấy rằng, rủi ro luôn gắn liền với từng nghiệp vụ trong hoạt động của NHTM. Đa số các nhà kinh tế thống nhất với nhau quan niệm về rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM là: “những biến cố không mong đợi xảy ra và gây tổn thất đối với ngân hàng”. Mức độ và tính chất rủi ro khác nhau sẽ gây ra những hậu quả không giống nhau song đều rất nguy hại bởi những tác động đến uy tín của ngân hàng và khả năng lan truyền. Việc tìm hiểu về các loại rủi ro, nguyên nhân và hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh sẽ trả lời cho chúng ta câu hỏi tại sao phải quản lý và nâng cao năng lực quản lý rủi ro của NHTM.
Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM cổ phần 1.1 Rủi ro tín dụng Là khả năng khách hàng (ngƣời đi vay) nhận khoản vốn vay nhƣng không thể hoàn trả vốnvà lãi hoặc hoàn trả khôngđầyđủ các khoản vayvà lãicho NH, gâytổn thất cho NH. Rủi ro tín dụng thƣờng chiếm tỷ trọng lớn nhất và phổ biến nhất xuất phát từ đặc điểm của tín dụng ngân hàng nhƣ đã nêu trên đây và trên thực tế, hoạt động tín dụng thƣờng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Về cơ bản, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay vốn không có khả năng chi trả lãi, chi trả nợ hoặc cả hai. Loại trừ một số ít khách hàng lừa đảo, đối với đa số khách hàng dù tình hình sản xuất kinh doanh tốt, có tình hình tài chính lành mạnh và thực thanh toán đầy đủ cho ngân hàng song vẫn có thể xảy ra những tình huống bất khả kháng dẫn đến không thể trả nợ đúng hạn cho ngân hàng.
Vì vậy có thể cho rằng rủi ro tín dụng là khách quan, tồn tại 7 z song song với tín dụng ngân hàng và cả NHTM chỉ có thể hạn chế và buộc chấp nhận rủi ro tín dụng ở mức độ nhất định mà thôi.1: Tỷ lệ các loại rủi ro trong một NHTM 1.2 Rủi ro tác nghiệp (rủi ro hoạt động) Là những tổn thất xảy do những “trục trặc” trong quá trình vận hành các hoạt động kinh doanh của NHTM nhƣ: Sai lệch về thông tin và xử lý thông tin, bất hợp lý về quy trình và kỹ thuật nghiệp vụ và sự phối hợp giữa các bộ phận chức năng trong ngân hàng, v.v¼ Thực ra rủi ro tác nghiệp đã xuất hiện từ lâu và luôn tiềm ẩn trong hoạt động ngân hàng nhƣng chỉ đến những năm gần đây mới đƣợc quan tâm nghiên cứu đẩy đủ hơn. Nhƣ đã đề cập trên đây, các hoạt động kinh doanh của NHTM là rất phức tạp và đƣợc thực hiện theo những quy trình và quy định rất chặt chẽ, song cũng chính vì vậy mà những sai xót rất dễ xảy ra. Bất kỳ một sự bất cẩn hay là non kém về mặt nghiệp vụ, thu thập xử lý thông tin thiếu chính xác và không kịp thời của các bộ phận chức năng trong hệ thống đều có thể ảnh đến những quyết định của giám đốc điều hành và toàn bộ các tác nghiệp tiếp theo. Rủi ro tác nghiệp của các NHTM có xu hƣớng ngày càng gia tăng, trƣớc hết, do sự mở rộng quy mô, phạm vi và sự đa dạng hoá hoạt động kinh doanh; mỗi ngân hàng thậm chí có thể trở thành các tập đoàn tài chính và là những công ty đa quốc gia.
Thêm nữa, môi trƣờng kinh doanh cũng ngày càng phức tạp hơn, áp lực công việc tăng do tốc độ và khối lƣợng giao dịch 8 z tăng, sự lệ thuộc vào kỹ thuật và công nghệ nhiều hơn, v.v¼ Do vậy, các ngân hàng tiên tiến và có quy mô lớn trên thế giới luôn nghiên cứu và tối ƣu hoá quy trình tác nghiệp trên cơ sở mô hình tổ chức phù hợp nhất đối với mỗi loại hình ngân hàng Hình 1.2: Các loại rủi ro tác nghiệp trong một NHTM 1.3 Rủi ro thị trường Là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng khi có sự biến động không lƣờng trƣớc của thị trƣờng, bao gồm rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá. Lãi suất và tỷ giá là những phạm trù khác nhau, và sự biến động của chúng cũng tác động không giống nhau đến hoạt động ngân hàng. Trong khi lãi suất biến động thì làm thay đổi thu nhập và chi phí, thì tỷ giá biến động sẽ làm thay đổi giá trị của tài sản và nguồn vốn của ngân hàng. Song nếu xét ở giác độ nghiên cứu khác, hai phạm trù này lại có những điểm giống nhau là luôn thay đổi trên thị trƣờng phụ thuộc vào các yếu tố cung – cầu về vốn và về ngoại tệ.
Quan trọng hơn, việc xác định, đo lƣờng mức độ và các biện pháp để hạn chế rủi ro của lãi suất và tỷ giá là hoàn toàn tƣơng tự và đều phải thực hiện thông qua các nghiệp vụ phái sinh trên thị trƣờng tiền tệ hay thị trƣờng ngoại hối. 9 z Trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, lãi suất và tỷ giá luôn đƣợc quản lý và duy trì cố định hay ít nhất là ổn định bởi Nhà nƣớc, do vậy các NHTM không phải lo lắng đến rủi ro lãi suất và tỷ giá. Trái lại, trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng với sự vận động rất linh hoạt và phức tạp của các luồng vốn, lãi suất và tỷ giá luôn biến động và khó có thể dự báo. Lãi suất và tỷ giá biến động theo chiều hƣớng khác nhau có thể dẫn đến các kết cục khác nhau đối với các ngân hàng có trạng thái luồng tiền và trạng thái ngoại hối khác nhau.
Một ngân hàng đƣợc “hƣởng lợi” từ sự biến động tăng của lãi suất hay tỷ giá thì sẽ lại bị “tổn thất” khi lãi suất hay tỷ giá giảm xuống. Xác suất thu đƣợc lợi ích và chịu tổn thất đối với mỗi ngân hàng là bằng nhau và bằng 50%, song xét về bản chất, lợi ích mà ngân hàng này có đƣợc lại chính là thiệt hại của ngân hàng khác. Do vậy, các ngân hàng đều tập trung sự quan tâm vào khả năng gặp phải tổn thất có nghĩa là không chấp nhận sai lầm, cũng từ lẽ đó mà rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá đƣợc coi là điều hoàn toàn tự nhiên đối với các ngân hàng có trạng thái luồng tiền và ngoại hối khác “mở” và các ngân hàng luôn phải hạn chế rủi ro loại này thông qua việc đo lƣờng xác định và thực thi các nghiệp vụ phái sinh để phòng và chống.4 Các loại rủi ro khác (rủi ro thanh khoản, rủi ro danh tiếng, rủi ro pháp lý, rủi ro chiến lược) Rủi ro thanh khoản: Là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vƣợt mức dự kiến, hay nói cách khác, ngân hàng không đáp ứng nhu cầu thanh toán hay rút tiền của khách hàng. Khi khả năng thanh toán bị đe dọa, NHTM buộc phải tìm kiếm nguồn và thƣờng là gia tăng các khoản đi vay “nóng” với chi phí rất cao, đặc biệt ở những nơi mà thị trƣờng tiền tệ chƣa phát triển.
Xét trên giác độ lý thuyết, rủi ro thanh khoản cũng là điều tự nhiên luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng bởi lẽ độ thanh khoản của nguồn vốn (cầu thanh khoản) bao giờ cũng cao hơn các 10 z khoản sử dụng vốn (cung thanh khoản). Tuy nhiên, trên thực tế rủi ro thanh khoản thƣờng ít xảy ra hơn hoặc cũng có thể đƣợc giảm thiểu và “che lấp” bởi các hoạt động trên thị trƣờng tiền tệ liên ngân hàng. Điều có thể thấy rất rõ là rủi ro thanh khoản và các loại rủi ro khác đều tác động đến hoạt động ngân hàng một cách ở mức độ khác nhau và dù có thể bị thua lỗ hay phá sản thì cũng “dần dần từng bƣớc” do vậy các ngân hàng có thể có cơ hội để khắc phục và cải thiện tình hình.