phần mở đầu, kết luận, các danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn đƣợc trình bày trong 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thƣơng. Chƣơng 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn Công Thƣơng. Chƣơng 4: Giải pháp và kiến nghị nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thƣơng trong thời gian tới.
4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc: Về năng lực cạnh tranh của NHTM, cho đến nay theo tác giả đƣợc biết thì đã có nhiều công trình khoa học, nhiều luận văn thạc sĩ đề cập đến nhƣ: - “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Nguyễn Quỳnh Hoa (Năm 2007), trong luận văn tác giả đã cung cấp cho ngƣời đọc bức tranh chung về năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thƣơng mại Nhà nƣớc Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Đặc biệt, tác giả đã vận dụng khung lý thuyết để đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh và đƣa ra các nhận định về yếu kém của năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam cũng nhƣ nguyên nhân của chúng, từ đó đƣa ra những kiến nghị, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh. - “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn – Hà Nội sau khi chuyển đổi Ngân hàng nông thôn lên đô thị” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Ngọc (Năm 2008)”, Luận văn đã nêu ra cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài gòn – Hà Nội sau khi chuyển đổi Ngân hàng nông thôn lên đô thị và các nhân tố ảnh hƣởng tới năng lực cạnh tranh của NHTM; trên cơ sở lý luận, luận văn áp dụng vào thực tiễn tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài gòn – Hà Nội trong giai đoạn 2005- 2008.
Luận văn đã đƣa ra thực trạng, tìm ra nguyên nhân và đề xuất những biện pháp, có những đề nghị để tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài gòn – Hà Nội sau khi chuyển đổi Ngân hàng nông thôn lên đô thị. - “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam thời kỳ hậu WTO” của tác giả Nguyễn Thị Phƣơng Thảo (năm 2008), Luận văn đã nghiên cứu về năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hậu WTO với một số đặc điểm cụ thể của năng lực cạnh tranh NHTM. Tác giả đã hệ thống hóa lý 5 z thuyết về năng lực cạnh tranh, vai trò, nội dung, các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh. Luận văn tập trung xem xét thực trạng năng lực cạnh tranh, đánh giá kết quả, hạn chế, nguyên nhân hạn chế.
Qua đó, kiến nghị các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam thời kỳ hậu WTO. Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu để giúp tác giả luận văn tham khảo nhƣ: “Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ Ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam” của tác giả Dƣơng Hoàng Anh (năm 2013). Tác giả Lê Văn Phƣớc (2008) với đề tài “Một số giải pháp góp phân nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu đến năm 2015”. “Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư phát triển Việt Nam – Chi nhánh Phú Thọ” của tác giả Nguyễn Trung Chính (năm 2012), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Côngthương chi nhánh Đồng tháp giai đoạn 2007-2015” của tác giả Đặng Văn Sang (năm 2007.
Thực tế chƣa có công trình, bài viết nào đề cập cụ thể, chuyên sâu về Năng lực cạnh tranh trên thị trƣờng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thƣơng. Vì vậy đề tài mà tác giả luận văn nghiên cứu không trùng lặp với công trình khoa học nào. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm và đặc điểm kinh doanh của ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm ngân hàng thương mại: Khái niệm về Ngân hàng có từ trƣớc khi nền sản xuất hàng hoá ra đời. Tuy nhiên, ngay từ đầu nó không mang cái tên Ngân hàng. Xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống và công việc buôn bán mà các thƣơng gia đã lập ra những nơi để đổi tiền, nhận tiền gửi và thu phí của ngƣời gửi, họ giúp chi trả và thanh toán hộ ngƣời gửi và ba nghiệp vụ đầu tiên hình thành, đó là: Đổi tiền, nhận tiền gửi và thanh toán hộ. Lúc đầu ngƣời gửi tiền phải trả một khoản tiền phí cho các thƣơng nhân này, nhƣng về sau do áp lực cạnh tranh và do các khoản tiền gửi này sinh lợi nên các thƣơng nhân này đã trả phí cho ngƣời gửi để tăng khả năng huy động.
Qua một thời gian các thƣơng gia này thấy rằng: luôn có một lƣợng tiền mặt ổn định đọng trong két họ. Trong khi đó một số thƣơng gia buôn bán lại có nhu cầu vay. Vì vậy họ cho vay để kiếm thêm lợi nhuận, chính là mầm mống xuất hiện những nghiệp vụ nền tảng của NHTM. 6 z Mặc dù NHTM ra đời từ rất lâu nhƣng các nhà kinh tế học vẫn chƣa hoàn toàn nhất trí với nhau về định nghĩa ngân hàng là do sự khác biệt về các quy định của luật pháp, số lƣợng và nội dung các nghiệp vụ đƣợc triển khai cũng nhƣ do bối cảnh kinh tế - xã hội của các vùng, các quốc gia là khác nhau… Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: "Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính".
Ở Việt Nam, Pháp lệnh Ngân hàng ban hành ngày 23/5/1990 xác định: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán’’. Từ những nhận định trên, theo tác giả có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trƣng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Những đặc điểm trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại: Kinh doanh ngân hàng là một ngành kinh doanh dịch vụ, theo đó, khách hàng đến giao dịch với NH nhằm mua hoặc bán một lợi ích liên quan đến tài chính song không tồn tại dƣới dạng vật chất, mặc dù hầu hết các giao dịch ngân hàng đều đi kèm với một lƣợng tiền nhất định.
Với tƣ cách là trung gian tài chính, các NHTM giữ vai trò huyết mạch trong nền kinh tế và là thƣớc đo trạng thái phát triển của nền kinh tế, chiếm vị trí quan trọng bậc nhất về quy mô vốn, tài sản và nội dung các nghiệp vụ. Nghiệp vụ kinh doanh của NHTM rất phong phú và đa dạng, nhìn chung chúng có những đặc điểm cơ bản sau: Một là, các NHTM thực hiện chức năng trung gian tín dụng, một mặt huy động và tập trung mọi nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời từ trong dân cƣ, từ các thành 7 z phần kinh tế trong xã hội tạo nên nguồn vốn, mặt khác trên cơ sở nguồn vốn huy động đã hình thành, các NHTM cho các tổ chức kinh tế, cá nhân có nhu cầu về vốn để sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng, vay lại. Với chức năng này, NHTM vừa là ngƣời đi vay, vừa là ngƣời cho vay. “Vay để cho vay” chính là một trong những phƣơng thức kinh doanh của NHTM nhằm làm cầu nối giữa những đối tƣợng có tiền nhàn rỗi tạm thời chƣa dùng đến nhƣng vẫn muốn đồng tiền sinh lời với những đối tƣợng cần vốn để đầu tƣ sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng mua sắm.
Có thể thấy rằng thực chất hoạt động kinh doanh của NHTM đƣợc tiến hành trên cơ sở tiền của ngƣời khác, vốn của các NHTM chỉ chiếm một phần nhỏ trong hoạt động kinh doanh này. Do vậy, chỉ khi hoạt động thực sự có hiệu quả thì các NHTM mới có khả năng hoàn trả cả gốc và lãi các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi đã huy động. Hai là, hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoạt động có tính rủi ro cao, nhƣ rủi ro tín dụng khi cung cấp các dịch vụ tín dụng cho khách hàng, ngân hàng hoàn toàn có khả năng mất vốn khi khách hàng làm ăn không hiệu quả, không trả đƣợc nợ, hoặc khi bị khách hàng lừa đảo, thực hiện chức năng trung gian tín dụng ngân hàng sẽ gặp rủi ro về lãi suất khi thị trƣờng có sự biến động về lãi suất. Trong quá trình huy động, bao giờ các ngân hàng cũng có rủi ro hệ thống về kì hạn, các khoản huy động và các khoản cho vay đều có độ lệch nhất định về kì hạn.
Ngoài ra, ngân hàng có thể gặp rủi ro về thanh khoản khi không cân đối đƣợc luồng tiền, có thể dẫn tới mất khả năng chi trả trong một thời điểm nhất định. Rủi ro về tỉ giá khi cung cấp các dịch vụ ngoại hối, rủi ro về chính sách của nhà nƣớc khi có sự thay đổi chính sách liên quan đến bất kì một lĩnh vực nào cũng ảnh hƣởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh ngân hàng, và hàng loạt các rủi ro khác mà ngân hàng có thể gặp phải trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Tất cả các rủi ro mà ngân hàng gặp phải đều có thể làm cho ngân hàng mất vốn hoặc giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình.