CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả chủ yếu giới thiệu sơ lược về đề tài nghiên cứu, về việc lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu là gì, đối tượng nghiên cứu này nhắm đến, từ đó khoanh vùng phạm vi nghiên cứu. Để thực hiện nghiên cứu, tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu, công cụ thực hiện, cách thức thu thập bộ dữ liệu và trình tự thực hiện cũng như khoảng trống nghiên cứu chưa thực hiện được. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU 2.1 Tổng quan về nợ xấu 2.1 Khái niệm Hiện nay chưa có một sự nhất trí nào về khái niệm nợ xấu hoặc các phương thức, tiêu chí hay điều kiện nào để đo lường và phân loại nợ xấu mà do chính người viết đề cập và đặt tên. Các quốc gia hay định chế tài chính khi có sự khác nhau trong hoạt động kinh doanh sẽ có thể khác nhau về cách phân loại nhóm nợ (Nguyễn Thị Hồng Ánh và cộng sự, 2021).
Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và Liên Hợp Quốc (Nhóm chuyên gia tư vấn – AEG): “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) không đưa ra thời gian quá hạn để một khoản nợ được xem là nợ xấu mà cho rằng “Nợ xấu” là “khoản nợ đã quá hạn và ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi”. Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) căn cứ trên tiêu chí chủ yếu của BCBS, cho rằng “một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và gốc trên 90 ngày trở lên, phù hợp với định nghĩa của Basel II về tổn thất, hoặc khi có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Điều 2, Quyết định số 22/VBHN-NHNN ngày 04/06/2014 của Ngân Hàng Nhà Nước quy định về nợ xấu của các tổ chức tín dụng cho biết: − “Nợ quá hạn” là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn.
− “Nợ xấu” (NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7 của Quyết định số 22/VBHN-NHNN ngày 04/06/2014, 10 tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng. Như vậy, có thể hiểu nợ xấu được định nghĩa là khoản nợ đáp ứng đầy đủ các tiêu chí phân loại trở thành nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 theo các tiêu chí được quy định tại Điều 6 và/hoặc Điều 7 Quyết định số 22/VBHN-NHNN ngày 04/06/2014 của Ngân hàng Nhà nước. Phân loại nợ xấu trên thế giới Đối với việc phân loại nợ, cho rằng khó có thể thống nhất quy định chung cho các quốc gia, mỗi khu vực cho một xu hướng phân loại nợ riêng. Việc phân loại nợ được xem là công việc của lãnh đạo ngân hàng trong vai trò nhà quản trị hoặc nhằm mục đích báo cáo đến cơ quan giám sát ngân hàng.
Tuy nhiên việc phân loại nợ không hẳn khác nhau hoàn toàn mà vẫn có một số điểm chung nhất định giữa các nước. Trong danh sách các nước đã ký đồng ý Hiệp ước chung về vay (GAB – General Agreements to Borrow), Mỹ và có thể bao gồm cả Đức đã có hướng dẫn hệ thống phân loại nợ một cách chi tiết và rõ ràng. Ở Đức, có bằng chứng cho thấy các ngân hàng tại nước này đã chia nợ của họ thành 4 nhóm ((i) Khoản vay không có rủi ro (ii) Khoản vay có dấu hiệu rủi ro (iii) Khoản vay có dấu hiệu không thu hồi được và (iv) Khoản vay mất vốn (Nợ xấu)) và có quy định mức dự phòng cụ thể cho từng nhóm. Trong khi đó, các ngân hàng ở Nhật Bản lại chia nợ thành 5 nhóm và quy định mức trích lập dự phòng cho 3 nhóm nợ cuối với tỷ lệ trích lập lần lượt là 15%, 70% và 100%.
Ở Hà Lan thì ngược lại, việc phân loại nợ dường như ít được thực thi và không có quy định cụ thể hay rõ ràng nào về phân loại nợ, khi cần đột xuất hoặc định kỳ theo yêu cầu, các nhà quản lý chỉ đạo cho nhân viên ngân hàng tự tiến hành phân loại nợ và nộp báo cáo đi. Các báo cáo phân loại này sẽ được cơ quan giám sát ngân hàng xem xét định kỳ để đánh giá rủi ro. Trong khi đó, Pháp, lại quy định hệ thống các nguyên tắc tối thiểu để phân loại nợ xấu nhưng chưa có hướng dẫn chi tiết và cụ thể hơn về phân loại nợ. Cách làm tương tự cũng được áp dụng ở Ý, nơi có 5 loại nợ nhưng chỉ hướng dẫn chung về cách thực hiện phân loại, không có tỷ lệ trích 11 lập dự phòng cụ thể.
Sang Tây Ban Nha, chúng ta lại thấy nợ người ta chia ra 6 nhóm nợ, có quy định mức trích lập chung với tỷ lệ là 0,51% và mức trích lập cụ thể đối với 3 nhóm nợ cuối lần lượt là 10%, 25-100% và 100%. Lý giải cho sự khác biệt này, theo nhận định của mình, Laurin và cộng sự (2003) đã cho rằng với mục đích giám sát khác nhau, các ngân hàng tại mỗi quốc gia đã sửa đổi cách phân loại sao cho đáp ứng tốt nhất yêu cầu của lãnh đạo và người đưa ra quyết sách của ngân hàng. Điều này nhìn chung là hợp lý vì thực trạng mỗi nền kinh tế là khác nhau, do vậy việc thay đổi là đúng để phù hợp với từng quốc gia. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế và Ngân hàng Thế giới, khoản vay nợ được chia làm 5 nhóm: Bảng 2.1 Phân loại nhóm nợ theo IMF và World Bank TT Khoản vay Đặc điểm và thời hạn 1 Đạt tiêu chuẩn − Có đủ năng lực trả nợ − Giá trị của TSBĐ tối thiểu bằng khoản vay − Thời gian quá hạn trả nợ dưới 10 ngày 2 Cần theo dõi − Tiềm ẩn một số yếu tố làm giảm năng lực trả nợ − Điều kiện kinh tế khó khăn − Thời gian quá hạn trả nợ dưới 90 ngày 3 Dưới tiêu − Các yếu tố làm giảm năng lực trả nợ được thể hiện chuẩn rõ ràng − Có sự thỏa thuận, đàm phán về việc trả nợ − Thời gian quá hạn trả nợ từ 90 đến 180 ngày 4 Đáng ngờ − Không có khả năng cho thấy có thể thu hồi được nợ − Có khả năng mất vốn − Thời gian quá hạn từ 180 đến 360 ngày 5 Mất vốn − Các khoản nợ xác định chắc chắn không thu hồi được − Thời gian quá hạn trên 360 ngày Nguồn: World Bank 12 Trên cơ sở phân loại này của World Bank và IMF, các nước trên thế giới đã tiếp thu, học hỏi và áp dụng: Ý, Nhật Bản, Mỹ, Úc, Trung Quốc, Singapore, Việt Nam,.
đã phân loại nợ tại các TCTD theo 5 nhóm. Tuy nhiên cũng có một số nước phân loại nợ thành 04 nhóm như Nga, Ấn Độ, Đức hoặc Tây Ban Nha 6 nhóm, Mexico 7 nhóm, Brazil 9 nhóm. Phân loại nợ xấu tại Việt Nam Kế thừa và học hỏi kinh nghiệm trên thế giới, Việt Nam cũng chia nợ thành 5 nhóm như của IMF và WB. Theo quy định tại Điều 6, Điều 7 Quyết định số 22/VBHN-NHNN ngày 04/06/2014 và một số quy định khác có liên quan, nợ xấu được phân loại cụ thể thành 5 nhóm, được thể hiện rõ trên hệ thống Trung Tâm Thông Tin Tín Dụng Quốc Gia Việt Nam (CIC), cụ thể như sau: Bảng 2.2 Phân loại nhóm nợ tại Việt Nam Nhóm nợ Tên gọi Thời gian nợ quá hạn Nhóm 1 Nợ đủ tiêu chuẩn Dưới 10 ngày Nhóm 2 Nợ cần chú ý Từ 10 - 90 ngày Nhóm 3 Nợ dưới tiêu chuẩn Từ 91 - 180 ngày Nhóm 4 Nợ nghi ngờ bị mất vốn Từ 181 - 360 ngày Nhóm 5 Nợ có khả năng mất vốn Từ 361 ngày trở lên Nguồn: Quyết định số 22/VBHN-NHNN ngày 04/06/2014 của NHNN 2.3 Nguyên nhân Có nhiều ý kiến về nguyên nhân gây ra nợ xấu tùy theo quan điểm của mỗi người, Tuy nhiên, nguyên nhân gây ra nợ xấu có thể được phân loại thành hai nhóm chính sau: − Nguyên nhân khách quan (vĩ mô): Là những nguyên nhân đến từ các yếu tố tự nhiên hoặc yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội.
Các yếu tố tự nhiên có thể kể đến như lũ lụt, hạn hán, thiên tai, dịch bệnh,. gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ thể đi vay, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ và dẫn đến nợ xấu. Ví dụ như trong năm 2019 và 2020, thế giới chứng kiến sự xuất hiện và phát triển của dịch covid-19, làm tác động nặng nề tới cả nền kinh tế 13 thế giới cũng như Việt Nam. Trong một báo cáo của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, trong 10 tháng đầu năm 2021, có khoảng 97.100 doanh nghiệp Việt Nam rút lui khỏi thị trường.500 doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động, chưa biết khi nào có thể hoạt động trở lại; 48.600 doanh nghiệp xác định phá sản, giải thể Công ty.
Tính bình quân một tháng có 9.700 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, một ngày có khoảng 330 doanh nghiệp đóng cửa do ảnh hưởng của dịch bệnh. Covid khiến các doanh nghiệp này không còn khả năng trả nợ, dẫn đến gia tăng nợ xấu; Các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội có thể kể đến như các tác động ngoại sinh đến hệ thống tài chính, ngân hàng của một nước, thường diễn ra trong trung hoặc dài hạn, như chu kỳ suy giảm của nền kinh tế, biến động tỷ giá, lạm phát. Ví dụ điển hình cho yếu tố này có thể kể đến cuộc đại khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra vào năm 2007 – 2008, khi mà kinh tế thế giới chứng kiến sự sụp đổ chưa từng thấy của hệ thống tài chính – ngân hàng, tình trạng sụt giá của chứng khoán do bong bóng bất động sản cùng với một sự lỏng lẻo trong việc giám sát tài chính. Cuộc khủng hoảng xảy ra đầu tiên tại Hoa Kỳ và sau đó lan ra các nền kinh tế khác trên thế giới khiến cho hàng loạt các doanh nghiệp mất nguồn thu do hoạt động sản xuất kinh doanh không có đầu ra, không tiêu thụ được hàng, cuối cùng mất khả năng trả nợ và gây tăng trưởng nợ xấu.