chương 1. Chương 2: Cơ sở lý thuyết, chương 2 giới thiệu về các định nghĩa, khung lý thuyết và nền tảng liên quan đến nợ xấu và hoạt động quản lý nợ xấu tại các NHTM. Nội dung quan trọng trong chương này là lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan nhằm tạo cơ sở xây dựng mô hình và thang đo các nhân tố trong mô hình. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trong chương này, tác giả sẽ trình bày quy trình thực hiện nghiên cứu, các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu.
Bên cạnh đó, dữ liệu nghiên cứu và cách thức thu thập dữ liệu cũng được đề cập trong chương 3. Chương 4: Kết quả nghiên cứu, chương 4 này tác giả trình bày kết quả nghiên cứu, bao gồm các số liệu thống kê mô tả mẫu, kiểm định độ tin cậy của các thang đo trong mô hình bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồi quy đa biến. Bên cạnh đó, tác giả thực hiện thêm kiểm định Levene, kiểm định T- test và kiểm định ANOVA. Đồng thời, phân tích chi tiết về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hoạt động quản lý nợ xấu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị, ở chương cuối cùng, tác giả đã đưa ra kết luận tổng quan về tình hình nghiên cứu tương ứng với các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra. Trên cơ sở kết quả của nghiên cứu, tác giả đã đề xuất và xây dựng các hàm ý quản trị trong chương 5. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra một số hạn chế trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài này và cũng đã đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Tổng quan về nợ xấu của Ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại Để hiểu hơn về bản chất của NHTM thường phải dựa vào tính chất, đối tượng và mục đích hoạt động trên thị trường tài chính để đưa ra định nghĩa.
Với mỗi quốc gia sẽ hình thành những khái niệm riêng về NHTM, cụ thể: Theo Luật Ngân hàng Đan Mạch (1930), “Những nhà băng thiết yếu bao gồm những nghiệp vụ nhận tiền gửi, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm.” Theo Luật Ngân hàng Pháp năm (1941) “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng (QĐ 32/2024/QH15) được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam ban hành ngày 18/01/2024 thì: “Ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán” 2.2 Khái niệm về nợ xấu Quan hệ tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên A chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên B được sử dụng trong một thời gian nhất định với 9 một khoản chi phí đã được xác định, đồng thời bên nhận tiền hoặc nhận tài sản cam kết nghĩa vụ hoàn trả theo thời gian đã thỏa thuận.
Đây cũng là hoạt động đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất trong ngành ngân hàng và nợ xấu chính là biểu hiện sự không lành mạnh của hoạt động này. Có thể thấy nợ xấu thực chất là những khoản tín dụng được cấp ra nhưng không thu hồi được đúng theo thỏa thuận. Thuật ngữ “nợ xấu” trong tiếng Anh ngoài từ “Bad debt” còn có thể được sử bằng các thuật ngữ khác nhau như “Non - performing loan” hay “Doubtful debt” (Fofack, 2005). Nợ xấu chỉ các khoản vay quá hạn trên 90 ngày nhưng không thu hồi được gốc và lãi (Rose, 2009; Miskin, 2010).
Theo một số tiêu chí của NHTW Liên minh Châu Âu (ECB) (2001) cho rằng: “Nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại không chỉ có những khoản vay quá hạn thông thường không có khả năng thu hồi theo hợp đồng mà còn có các khoản nợ chưa quá hạn nhưng tiền ẩn các rủi ro dẫn đến việc có thể không thanh toán đầy đủ gốc và lãi cho ngân hàng”. Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) về cán cân thanh toán (2005), cho rằng: “Một khoản vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”. Theo Thông tư số 11/2021/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành ngày 30/07/2021, quy định về phân loại tài sản có, mức trích lập dự phòng, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động đối với TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)”. Ngoài ra, theo điều 13 của quyết định này cũng đề cập tới nợ xấu "Khi đến kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi, nếu KH không trả nợ đúng hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn nợ gốc hoặc lãi, không được gia hạn nợ gốc hoặc lãi, thì TCTD chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ xấu" 10 Qua các khái niệm trên và trong khuôn khổ luận văn này, tác giả cho rằng nợ xấu mang khái niệm phổ biến nhưng đều có tính thống nhất cao vì được các cơ quan Nhà nước, các định chế tài chính đưa ra dựa trên cả hai hoặc một trong hai yếu tố là: Khả năng không trả được nợ của KH và thời gian quá hạn thanh toán cho khoản vay trả chậm từ 90 ngày trở lên.3 Phân loại nợ xấu • Theo phương pháp định tính và định lượng Các thể chế tài chính khác nhau đều có cách phân loại nợ khác nhau.
Tuy nhiên, theo Thông tư số 11/2021/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành ngày 30/07/2021 Quy định về phân loại tài sản có, mức trích lập dự phòng, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động đối với TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì nợ gồm nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), nợ nghi ngờ (nhóm 4) và nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5), có mức trích lập dự phòng cụ thể lần lượt là 20%, 50% và 100% và đối với nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 có mức trích lập dự phòng chung là 0.75%, chi tiết được trình bày cụ thể trong Phụ lục 1. Trong đó: Theo Khoản 4,5 Điều 3 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN có quy định: “Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể. Dự phòng chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể ” • Theo nguyên tắc hạch toán kế toán (i) Nợ xấu nội bảng: Đây là các khoản nợ vẫn đang được theo dõi trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Các khoản nợ xấu này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh trong kỳ báo cáo do ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro gắn liền với các khoản vay được đánh giá là rủi ro theo tỷ lệ do NHNN Việt Nam quy định.
• Nợ xấu ngoại bảng: Đây là những khoản nợ xấu đã được xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro và được theo dõi ngoài bảng cân đối kế toán để có biện pháp xử lý theo quy định. Lợi nhuận bất thường của các ngân hàng tăng lên khi thu hồi được khoản này. 11 • Theo biện pháp đảm bảo tiền vay Ngoài ra, dựa trên các biện pháp thế chấp, các khoản vay được phân loại thành các khoản nợ xấu có bảo đảm (các khoản vay thế chấp) và các khoản nợ xấu không có bảo đảm (các khoản vay không có bảo đảm). (i) Nợ xấu có tài sản bảo đảm: Đây là các khoản nợ có tài sản đảm bảo nhưng chưa được KH thanh toán đúng hạn.
Các ngân hàng giải ngân các khoản vay này với điều kiện người vay phải cung cấp tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. (ii) Nợ xấu không có tài sản bảo đảm: Đây là các khoản vay được giải ngân không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, chỉ dựa vào uy tín tín dụng của người đi vay hoặc chỉ thị của Chính phủ.4 Ảnh hưởng của nợ xấu Khách hàng Nền kinh tế Nợ xấu Hệ thống các NHTM Sơ đồ 2.1 Ảnh hưởng của nợ xấu Nguồn: Tổng hợp của tác giả Nợ xấu (NPL) là hệ quả phản ánh mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo vì chúng vi phạm các đặc tính cơ bản của tín dụng là tính kịp thời và độ tin cậy, dẫn đến vi phạm đặc tính thứ hai là sự hoàn trả đầy đủ, dẫn đến mất lòng tin. Khi tỷ lệ nợ xấu tăng cao sẽ gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho nền kinh tế và bản thân ngân hàng cấp tín dụng cũng như người đi vay, cụ thể: • Ảnh hưởng đối với nền kinh tế Giảm khả năng cho vay của các tổ chức tài chính: Nợ xấu làm giảm nguồn vốn khả dụng của các TCTD, do các khoản tiền không được thu hồi và phải trích lập dự phòng rủi ro. Khi tỷ lệ nợ xấu cao, các tổ chức tài chính phải tăng trích lập dự phòng, làm tăng 12 chi phí vốn và giảm khả năng cung cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Cuối cùng, do sợ rủi ro, các ngân hàng có xu hướng thắt chặt các tiêu chuẩn tín dụng, làm giảm lượng tín dụng cấp cho doanh nghiệp và cá nhân.