Chương 1 trình bày sự cần thiết nghiên cứu liên quan đến QTRRTD tại Vietcơmbank. Ọua đỏ, xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu đê thực hiện Đe án. 6 CHƯƠNG 2: co SỎ LÝ THUYẾT VÈ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THU ONG MẠI 2. Lý thuyết về rủi ro tín dụng 2.
Khái niệm về rủi ro tín dụng Theo Saunders & Lange (1997), RRTD được hiểu là khá năng thất thoát tiềm tàng khi NHTM cấp tín dụng (cho vay) đối với một khách hàng. Theo đó, do khách hàng trả nợ trong tương lai nên khá năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoán cấp tín dụng của NHTM có thê không được thực hiện hay không đầy đủ về mặt số lượng cũng như đúng hạn. RRTD là loại rủi ro cơ bản và rõ ràng nhât mà các nhà QTRR cần giái quyết.NCA (1999), RRTD được hiểu là khả năng mà người đi vay không thực hiện đúng các nghĩa vụ mà họ đà cam kết theo hợp đồng đà thoả thuận. Theo Bessis (2010), RRTD là rủi ro khi người đi vay vi phạm các nghĩa vụ trả nợ.
Theo Greuning & Bratanovic (2009), nhận định RRTD là khả năng mà khách hàng không đủ khả năng trả nợ gốc và lài theo cam kết đã thoả thuận. Từ đó, nghĩa vụ trả nợ gổc và lài bị tri hoàn hoặc không thê hoàn trả được, gây ra tôn thất, vấn đề vê dòng tiên và khả năng thanh toán của ngân hàng. Theo Duffie & Singleton (2012), RRTD là “xác suất vờ nợ hoặc giám giá trị thị trường gảy ra bời sự giâm chât lượng tín dụng của tô chức cho vay hoặc đôi tác”. Thông lư sổ 11/2021/TT-NHNN quy định “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là kha năng xảy ra tôn thất đối với nợ của lố chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phân hoặc toàn bộ nợ cùa minh theo hợp đồng hoặc thoả thuận với tố chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”.
Bên cạnh đó, RRTD không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay truyền thống mà còn xuất hiện ớ nhiều hoạt động cỏ tính chất tín dụng khác cúa ngân hàng như: trái quyền, SWAPS, tín dụng thuê mua, cho vay đồng tài trợ, báo lãnh, cam kết tín dụng, tài trợ thương mại, cho vay trên thị trường liên ngân hàng những chứng khoán có giá (trái phiếu, cô phiếu.) 7 Mặc dù có nhiều quan diêm khác nhau về RRTD, nhìn chung RRTD trong hoạt động ngân hàng có thể được hiểu là khoản tốn thất tiềm tàng khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trá nợ gổc và lài theo như cam kết trong họp đồng tín đụng. Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng RRTD xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như chính sách vĩ mô thay đôi, biên động kinh tê, sự giám sát, kiêm soát, quản lý yêu kém cua NHTM, chính sách cho vay không hiệu quả hoặc thiếu kiêm soát, lài suất biến động, hạn chế, bất cập hay lồ hống trong việc đánh giá các khoản tín dụng, kiốm soát nợ xấu, NHNN giám sát không chặt chc (Allen & Saunders, 2002; Nijskens & Wagner, 2011; Qian & Strahan, 2007; Wang, 2013). Một cách khái quát các nguyên nhân dần đến RRTD đỏi với NHTM cỏ thê phân làm ba nhóm chính sau đây: (1) Các nguyên nhân khách quan từ mỏi trường kinh doanh; (2) Các nguyên nhân từ phía người vay và (3) Các nguyên nhân từ nội tại NHTM. > Nguyên nhân khách quan từ môi trường kinh doanh Sự thay đồi chính sách vĩ mó: Khi gặp các vấn đề vĩ mô như thất nghiệp, lạm phát gia tăng, nhà nước phài đưa ra các chính sách điều tiết thị trường nhằm kiếm soát tiêu cực của các vấn đề này đến nen kinh tế quốc gia.
Các công cụ giúp nhà nước điều tiết thị trường là các công cụ cúa các chính sách tài chính - tiền tệ như lãi suất cơ bàn; tý lệ dừ trừ băt buộc; chính sách tài khoá như thuê và chi tiêu công. Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó, các điều chỉnh chính sách này gây ánh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đen các NHTM. Chính sách pháp luật thay đổi: Wang (2013) nhận định, sự thiếu đồng bộ của chính sách pháp luật là lý do dẫn tới sự vờ nợ cua nhiều trường họp khách hàng vay, từ đó dần tới RRTD. Hoạt động kinh doanh của NHTM mang tính xã hội cao, có mối quan hệ với nhiều ngành nghề khác trong nền kinh tế.
Khuôn khố pháp lý ổn định giúp hoạt động kinh doanh cùa NHTM và các ngành nghề khác được sưôn sẻ. Ngược lại, khi chính sách pháp luật chưa rõ ràng, có nhiều khoảng trổng, bất cập se gây ra tham nhũng, lạm dụng chiếm đoạt tài sàn.dần đen doanh nghiệp kinh doanh gặp khó khăn. Từ đó, người đi vay không trá được lài và nợ gốc cho ngân hàng. Đang ngại hơn là gây ra hiệu ứng dây chuyên.
Biển động kinh té: Bời quá trình hội nhập, nền kinh tế cùa một quốc gia chịu 8 sự tác động của những biến động của nền kinh tế toàn cầu. Điều này làm phát sinh rùi ro trong hoạt động kinh doanh cùa các NHTM. Trong đó kinh doanh tiền tệ là hoạt động phái đổi mặt với nhiều rủi ro nhất. > Các nguyên nhân lừ phía người vay Khách hàng quản lý tài chỉnh yếu kém, không có nguồn tiền đê trá nợ cho ngân hàng.
Hoạt động kinh doanh thất bại, không có phương án trã nợ cho ngân hàng. Khách hàng cổ tinh chiếm đoạt tiền của ngân hàng, không chịu trá nợ. Làm giá các giây tờ vê tài sán đâm báo đê vay vôn, cô tình lừa gạt ngân hàng khi thê châp tài sân bảo đảm. Sử dụng vốn sai mục đích, đầu tư sai hướng, dần đến không có khả năng chi trá nợ cho ngân hàng.
Phương án/Dự án hoạt động không hiệu quà, nguồn thu không có hoặc phương án/dự án đưa vào khai thác chậm, không đủ nguồn tiền đê trả nợ. Những nguyên nhân khách quan trôn cần phái được dự báo chính xác và phái cỏ những giái pháp phỏng ngừa hiệu quá, kịp thời và phù hợp bời chúng gây ra nảh hường tiêu cực đên hoạt động kinh doanh cùa NHTM. > Các nguyên nhân từ nội lại NHTM Chính sách, quy trình cấp tín dụng cúa Ngân hàng chưa chặt chỗ, còn có chố hờ, mầu biêu thỏa thuận, hợp đồng cúa ngân hàng không cập nhật kịp thời, không phù hợp với các quy định của pháp luật.Cán bộ ngân hàng không đú chuyên môn, nghiệp vụ, thiếu trách nhiệm dần đến sai sót hoặc bị khách hàng lợi dụng, cán bộ ngân hàng thông đồng với khách hàng đế chiếm đoạt tiền của ngân hàng hay làm giá hồ sơ vay vốn. Định giá không đúng hoặc định giá khống giá trị tài sân báo đảm hoặc tài sán bảo đám diền biên theo chiều hướng xâu nhưng không có cách giải quyết phù hợp; không kiêm tra, định giá tài sản bào đảm thường xuyên, định kỳ.
Đánh giá sai tình hình tài chính, thấm định sơ sài, cố tình lờ đi nhiều quy định dần đến cho vay khách hàng có tình hình tài chính kém. Khách hàng sư dụng vốn vay sai mục đích theo thỏa thuận dân đên mât khả năng chi trá. Thâm định hô sơ pháp lý không đây đú, không đúng quy định dẫn đến việc chấp nhận cho vay nhiều dự án, phương án không đủ giấy tờ pháp lý. Không kiêm tra sau cho vay hoặc kiếm tra sau cho vay nhưng chỉ mang tính hình thức, cấp tín dụng chỉ dựa vào quen biết, mối quan hộ, tôn tuổi hoặc một nhóm đối tượng khách hàng nhất định, một ngành nghề hay một lĩnh vực ngành nghê nhât định dân đên rủi ro tập trung tín dụng.
Cơ câu khoản vay không 9 hợp lý, cho vay không đúng chu kỳ kinh doanh, phân kỳ trà nợ gổc lài không hợp lỷ. Hậu quả của rủi ro tín dụng Lược khảo nghiên cửu chỉ ra, RRTD được xem là một trong nhừng nguyên nhân chính gây ra phá sản ở các NHTM (Altman, E. RRTD dần den những ton that cho NHTM như trực tiếp làm giám lợi nhuận, tăng chi phí, giám uy tín cua NHTM (Berger. RRTD trực tiêp làm giảm lợi nhuận, giảm khả năng sinh lời cùa NHTM do không thê thu hồi được lài và nợ gốc, (Aduda & Gitonga, 2011), (Gizaw & cộng sự, 2015) chi ra rằng RRTD có ánh hường trực tiếp tới lợi nhuận cúa NHTM (thông qua các chỉ so ROA, ROE).
Không chi vậy, khi NHTM phát sinh các khoán nợ xấu, họ phải mất nhiều chi phí xử lý nợ xấu này và cã chi phí cơ hội khi không cho vay mới được, qua đó làm chậm vòng quay tín dụng. RRTD làm giảm uy tín của NHTM. Khi RRTD quá cao, các nhà đầu tư sè đánh giá NHTM hoạt động kinh doanh không hiệu quả. Ọua đỏ uy tín của ngân hàng bị ảnh hường nghiêm trọng với biêu hiện rõ nhất là sụt giảm giá trị cố phiếu trên thị trường chứng khoán (Zribi & Boujelbene, 2021).
RRTD còn gây ra tác động gián tiếp cho các NHTM, doanh nghiệp kinh doanh khác. NHTM đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tc, lien quan đến nhiều ngành nghề, nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Vì vậy, khi có sự lốn thất lớn trong hoạt động tín dụng ờ một NHTM sẽ gây ra hiệu ứng dây chuyền ảnh hường đên toàn bộ hệ thong NHTM, từ đó ánh hường đen cả nền kinh tế. Các tiêu chí đánh giá rúi ro tín dụng Theo Đinh Xuân Hạng & Cộng sự (2012), với vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác đánh giá RRTD của một ngân hàng, các chỉ tiêu sau thường được xem xét một cách cấn trọng: 2.
Các chi tiêu trực tiếp Nọ’ quá hạn: Là chỉ tiêu cơ bản phán ánh RRTD. Nợ quá hạn sẽ phát sinh khi đên thời hạn trá nợ theo cam kẻt nhưng người vay không có khả năng trà được nợ 10 một phần hay toàn bộ khoản vay. Tùy theo thời gian quá hạn, khoán nọ này sè được xác định là nợ đủ tiêu chuấn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, hoặc là nợ có khá năng mất vốn. Nợ quá hạn được phản ánh qua chi tiêu nọ quá hạn và sô khách hàng có nợ quá hạn.
nếu ngân hàng có 2 chí tiêu này lớn thỉ ngân hàng đó đang có mửc rùi ro cao và ngược lại. (i) Tý lộ nợ quá hạn = số dư nợ quá hạn / Tổng dư nợ (ii) Tỷ lệ khách hàng có nợ quá hạn = Sô khách hàng có nợ quá hạn / Tông sổ khách hàng có dư nợ. Đây là chi tiêu đánh giá rủi ro tín dụng cũng như chất lượng tín dụng tại ngân hàng. Chi liêu này càng lớn thế hiện chất lượng tín dụng càng kém và ngược lại.