Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng. Chương 3: Biện pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Đến thời điểm này, đã có rất nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng ngân hàng, như: Anthony Sauders (2007) định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn”.Koch (2006) thì “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”. Khoản 24 Điều 2 Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN Việt Nam quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với Ngân hàng, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài có nêu: ”Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” Hoạt động cơ bản của ngân hàng là tín dụng. Đây là hoạt động đem lại nguồn thu chính của các ngân hàng thương mại.
Đi đôi với lợi ích mang lại, hoạt động tín dụng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Quy mô cho vay của ngân hàng càng lớn thì rủi ro có thể đem lại càng lớn. Rủi ro tín dụng khiến cho ngân hàng bị mất cơ hội nhận được thu nhập tiền lãi cho vay, tổn thất trước hết tác động đến lợi nhuận và sau đó là mất vốn của ngân hàng. Ngày nay hoạt động của ngân hàng mang tính xã hội hóa cao, mạng lưới ngân hàng được phát triển rộng rãi, do đó khi rủi ro tín dụng xảy ra đối 4 với ngân hàng thì nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế - xã hội của cả quốc gia.
Bởi vậy, nếu rủi ro tín dụng nếu không được hạn chế, có thể sẽ gây ra những bất ổn về kinh tế - xã hội. Phân loại rủi ro tín dụng 1. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh Rủi ro lựa chọn Phân loại rủi Rủi ro nội tại ro dựa vào Rủi ro bảo đảm nguyên nhân Rủi ro tập trung Rủi ro nghiệp vụ Rủi ro tác nghiệp Rủi ro danh mục Trong đó: Rủi ro lựa chọn Là là rủi ro do quá trình đánh giá phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn phương án cho vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay tới khách hàng. Rủi ro bảo đảm Là rủi ro phát sinh liên quan đến các yếu tố TSĐB thể hiện trong hợp đồng cấp tín dụng như: loại TSĐB, chủ sở hữu TSĐB, giá trị TSĐB, tỷ lệ cho vay/ tổng giá trị tài sản… Rủi ro nghiệp vụ Là rủi ro phát sinh liên quan đến các yếu tố cho vay như: quản lý sau cho vay, quy trình cho vay, xếp hạng rủi ro, biện pháp xử lý rủi ro khi các khoản vay có vấn đề 5 Rủi ro danh mục Là rủi ro phát sinh do trong quá trình quản lý sau cho vay của ngân hàng có nhiều hạn chế, không khắc phục được.
Rui do danh mục bao gồm: rủi ro danh mục và rủi ro tập trung. Rủi ro nội tại Mỗi khách hàng vay, mỗi ngành nghề, lĩnh vực cho vay đều có những đặc điểm riêng biệt. Do vậy, mỗi chủ thể vay đều có những rủi ro nội tại riêng đặc trưng, mang tính riêng biệt. Rủi ro tập trung Khi ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều cho một số đối tượng khách hàng, một số nhóm ngành nghề, lĩnh vực…, khi các chủ thể vay này có hoạt động kinh doanh không ổn định thì nguy cơ rủi ro tập trung sẽ rất lớn.
Rủi ro tác nghiệp Là rủi ro do về phía cán bộ ngân hàng, thể hiện ở quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng. Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng Phân loại rủi ro dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng Rủi ro do khách hàng Rủi ro Rủi ro tín dụng không mất khả năng chi trả không giới hạn ở hoạt động hoàn trả cho vay nợ đúng hạn Trong đó: 6 Rủi ro do khách hàng mất khả năng chi trả: là rủi ro khi khách hàng không còn khả năng chi trả, ngân hàng phải thanh lý TSĐB, TS thế chấp để thu nợ, lãi. Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Là rủi ro thì đến hạn trả nợ mà khách hàng không thực hiện trả một phần hoặc toàn bộ. Rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay: ngoài nghiệp vụ cho vay thông thường, ngân hàng còn có một số nghiệp vụ khác mang tính chất tín dụng như:tài trợ thương mại, bảo lãnh, đồng tài trợ… 1.
Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Do nghiệp vụ tín dụng rất đa dạng nên rủi ro cũng có nhiều loại và do nhiều nguyên nhân khác nhau. Rủi ro tín dụng có thể do thị trường, giá cả, do dự án khách hàng vay không khả thi hoặc tạm dừng do nguyên nhân khách quan, do môi trường pháp lý…. Từ thực tế đã xảy ra,có thể chia rủi ro tín dụng do các nguyên nhân chính sau: Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Do yếu tố Yếu tố quy Yếu tố thị Môi trường nguồn nhân trình trường, yếu tố kinh tế, pháp lực khách hàng lý 1. Do yếu tố nguồn nhân lực Nguồn lực là một nhân tố quan trọng, là một trong nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng thể hiện qua các mặt sau: 7 Trong đó: - Chuẩn mực đạo đức bao gồm: thái độ và hành vi ứng xử.
Đạo đức cán bộ đóng vai trò cốt lõi trong các biện pháp rủi ro tín dụng. Khi cán bộ cố tình vi phạm thì rủi ro mang lại sẽ rất lớn. - Tiêu chuẩn nghề nghiệp bao gồm: Kiến thức và kỹ năng. Các tiêu chuẩn này sẽ dẫn đến những quyết định cho vay không đúng, quyết định đầu tư vào những phương án, dự án kinh doanh kém hiệu quả.
Tiêu chuẩn nghề nghiệp của cán bộ tín dụng thể hiện ở các mặt sau: - Thẩm định và quyết định cho vay: khi CBTD đánh giá, thẩm định chỉ dựa vào hồ sơ khách hàng cung cấp mà không tìm hiểu thực tế thì sẽ dẫn đến những quyết định sai khi cho vay. - Khả năng phân tích dự án của cán bộ tín dụng: các dự án kinh tế thường có thời gian kéo dài, nếu CBTD không có khả năng phân tích, nhận định cũng như dự đoán sẽ dẫn đến những quyết định sai lầm khi cho khách hàng vay. Yếu tố quy trình Rủi ro có thể do ngân hàng có hệ thống quy trình còn tồn tại những hạn chế, dẫn đến những rủi ro khi tác nghiệp. Những rủi ro từ yếu tố quy trình bao gồm: Yếu tố quy trình Quy trình kiểm soát Quy trình giám sát, Chính sách tín nội bộ quản lý sau cho vay dụng 8 Quy trình kiểm soát nội bộ Quy trình Kiểm tra nội bộ có ưu điểm là nhanh chóng, kịp thời.
nếu quy trình này được thực hiện thường xuyên trong suốt quá trình của món cấp tín dụng thì có thể phát hiện được ra những dấu hiệu rủi ro và nhanh chóng khắc phục. Kiểm soát nội bộ sẽ bao gồm trước và sau khi cho vay. Việc kiểm soát nội bộ sẽ giúp kiểm tra CBTD có tuân thủ các điều kiện cấp tín dụng hay không? Nếu quy trình tín dụng không được thực hiện có khả năng khách hàng sẽ không thực hiện nghiêm túc các quy định của ngân hàng. Việc kiểm soát vốn vay không chặt chẽ dẫn đến hậu quả là khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ với ngân hàng, không phát hiện và xử lý kịp thời những rủi ro phát sinh.
Quy trình giám sát, quản lý sau cho vay Giám sát, quản lý sau cho vay là việc ngân hàng tiến hành kiểm tra việc khách hàng có thực hiện những cam kết trong hợp đồng vay hay không, từ những dữ liệu kiểm tra có thể phát hiện ra những thay đổi ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các nghĩa vụ vay với ngân hàng. Nếu ngân hàng không thực hiện chặt chẽ quá trình giám sát sau vay thì khả năng xảy ra rủi ro rất lớn. thực tế, do tâm lý sợ gây phiền hà cho khách hàng, đôi khi cán bộ tín dụng còn chưa đi kiểm tra sau vay hoặc kiểm tra chưa đầy đủ, do vậy thiếu thông tin quản lý nên công tác giám sát sau cho vay chưa hiệu quả. Chính sách tín dụng Các chính sách đầu tư, cho vay của ngân hàng nếu hợp lý như: tập trung vào một nhóm khách hàng; một thành phần kinh tế; quan tâm quá mức đến vấn đề tài sản đảm bảo nợ vay, chú trọng vào lợi nhuận và muốn phát triển nhanh, không có được những biện pháp hợp lý và những quy định kịp thời để xử lý những trường hợp cho vay có dấu hiệu kém an toàn thì việc xảy ra rủi ro là tất yếu.
Ngân hàng khi không có chính sách tín dụng hợp lý, không 9 phù hợp với điều kiện thực tiễn sẽ không thể đảm bảo hạn chế rủi ro tín dụng một cách tối đa. Yếu tố thị trường, yếu tố khách hàng Yếu tố thị trường: Thị trường bao gồm những nhân tố chủ yếu như sau: hàng hóa, tiền tệ, bên mua và bên bán. Việc biến động một trong các yếu tổ kể trên cũng sẽ tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến việc triển khai dự án, đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi hoạt động của doanh nghiệp bị tác động xấu, đồng nghĩa với việc thực hiện các cam kết với ngân hàng cho vay không được đảm bảo.
Yếu tố khách hàng: Thứ nhất: Năng lực tài chính của khách hàng vay Rủi ro của khách hàng có thể xảy ra thì dấu hiệu đầu tiên là năng lực tài chính của khách hàng không đảm bảo, không đủ khả năng để trả nợ.