lời mở đầu, kết luận, luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận quản lý nợ xấu trong hoạt động của Ngân hàng Thƣơng Mại. Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu luận văn. Chƣơng 3: Thực trạng quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Nghệ An.
Chƣơng 4: Định hƣớng và Giải pháp tăng cƣờng quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay tầm nhìn đến năm 2020. 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NỢ XẤU NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu nợ xấu chung.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề nợ xấu ngân hàng. Cụ thể, các vấn đề về nợ xấu đã đƣợc đề cập ở một số luận văn thạc sỹ trong thời gian qua. Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Thu Hiền (2012) .nghiên cứu giải pháp xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, luận văn chỉ mới đƣa ra phƣơng pháp xử lý nợ xấu, chƣa nói đến đo lƣờng nợ xấu, phòng tránh nợ xấu. Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Vân Huyền (2010), Cù Hoài Thanh (2010).
nghiên cứu về các giải pháp nhằm hạn chế và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt Nam. Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Quốc Việt (2011), Đặng Thị Ngọc Diễm (2013). nghiên cứu xử lý nợ xấu tại Ngân hàng đầu tƣ và phát triển Việt Nam. Nhƣ vậy, vấn đề nợ xấu đã đƣợc quan tâm khá nhiều ở các luận văn thạc sỹ, phần lớn các nghiên cứu trên mới nghiên cứu sự phát sinh các khoản nợ xấu hoặc việc xử lý các khoản nợ xấu, chƣa có sự kết hợp toàn diện giữa hai vấn đề này.
Trong khi đó thực tiễn đòi hỏi phải quản lý nợ xấu đồng thời trên cả hai giác độ: hạn chế sự phát sinh nợ xấu và xử lý những khoản nợ xấu đã phát sinh nhƣ thế nào. Đối với luận án tiến sĩ trong nƣớc, có một công trình đƣợc bảo vệ khá thành công với những đóng góp thực sự có giá trị cho hoạt động quản trị NHTM, đó là luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Huyền Diệu (2010) với tên đề tài “ Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống NHTM Việt Nam’”. Đề tài của tác giả đã đúc kết lại lý thuyết cơ bản về các mô hình quản lý rủi ro tín dụng. Tác giả Huyền Diệu đã luận giải một cách có hệ thống các vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng và xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng từ đó phân tích các điều kiện thực tiễn để áp dụng tại các NHTM Việt Nam.
Gần đây nhất, có một công trình đƣợc bảo vệ rất thành công với những đóng góp thực sự có giá trị cho hoạt động quản lý nợ xấu NHTM Việt Nam, đó là luận án 4 z tiến sỹ của tác giả Nguyễn Thị Hoài Phƣơng ( 2012) với tên đề tài “ Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại Việt Nam”. Đề tài của tác giả lựa chọn cách tiếp cận việc quản lý nợ xấu ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế, Hiệp ƣớc Basel II đƣợc sử dụng nhƣ một chuẩn mực trong việc quản lý nợ xấu. Các vấn đề về nợ xấu cũng đƣợc đề cập tới ở một số tạp chí chuyên ngành. Bài viết của Huỳnh Thế Du (2004) trong chƣơng trình giảng dạy kinh tế Fulbright, TP Hồ Chí Minh đã đƣa ra một số mô hình xử lý nợ xấu trên thế giới: Gồm mô hình xử lý nợ tập trung.
VD: Hoa Kỳ và các nƣớc Đông Á nhƣ: Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc.và mô hình xử lý nợ phi tập trung. VD: Hungary, Ba Lan.Tác giả phân tích rất kỹ về mặt ƣu - nhƣợc điểm của từng loại mô hình. Ngoài ra, tác giả còn có sự so sánh các điểm tƣơng đồng về xuất phát điểm và quá trình phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam và hệ thống NHTM Trung Quốc đồng thời cũng nghiên cứu thực trạng về nguyên nhân, quá trình phát sinh và xử lý nợ xấu ở Việt Nam và Trung Quốc trong các năm 2003 và 2004. Nghiên cứu của tác giả đƣợc kết luận với những đánh giá và biện pháp trong việc xử lý nợ của cả hai quốc gia này.
Nhƣ vậy, với nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thế Du, vấn đề về quá trình xử lý nợ xấu, cũng nhƣ xây dựng mô hình quản lý nợ xấu đối với các NHTM Việt Nam đã đƣợc đề cập. Bài viết của Nguyễn Đào Tố (2008) trên tạp chí Ngân hàng, số 5 nhấn mạnh tới sự cần thiết phải ứng dụng những nguyên tắc Basel về quản lý nợ xấu, từ đó xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng đối với các NHTM Việt Nam. Bài viết của Huỳnh Thị Phƣơng Thảo (2014), trên tạp chí Tài chính - Bảo hiểm, đã đề cập tới việc Việt Nam không nằm trong danh sách các quốc gia thành viên của Uỷ Ban Basel, tức là không chịu áp lực phải vận dụng các quy định an toàn của hiệp ƣớc này, song việc vận dụng các hiệp ƣớc Basel trong hoạt động quản trị Ngân hàng nƣớc ta hết sức ý nghĩa và cần thiết. Các bài viết này có ƣu điểm là đã tiếp cận cách quản lý nợ xấu hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế, cụ thể là ứng dụng các nguyên tắc của Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng.
Tình hình nghiên cứu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Nghệ An. Thời gian qua, hệ thống NHTM Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Nghệ An (Agribank chi nhánh tỉnh Nghệ An) cũng không thoát ra khỏi quy luật đó. Vấn đề trọng tâm hiện nay là nợ xấu. cũng đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề nợ xấu tại Agribank chi nhánh tỉnh Nghệ An.
Luận văn thạc sỹ của Hoàng Dƣơng (2009)“ Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An”, Đề án Phan Đức Tiến (2009) “ Giải pháp thu nợ tồn đọng khó thu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An”. Nhƣ vậy, mới chỉ có một vài nghiên cứu quan tâm đến vấn đề nợ xấu tại Agribank chi nhánh tỉnh Nghệ An: Trong khi đó nợ xấu phát sinh trong hoạt động tín dụng tại chi nhánh có xu hƣớng tăng, các khoản vay tiềm ẩn rủi ro cao, quan tâm về nợ xấu chƣa đúng mức. Để đảm bảo an toàn tín dụng, cần có công trình nghiên cứu, hạn chế phát sinh nợ xấu và xử lý nợ xấu nhiều hơn nữa. Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu riêng biệt từ trƣớc đến nay về vấn đề quản lý nợ xấu ngân hàng: Tác giả lựa chọn cách tiếp cận việc quản lý nợ xấu ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế, do vậy Hiệp ƣớc Basel II đƣợc sử dụng nhƣ một chuẩn mực trong việc tiếp cận, so sánh và đánh giá.
Việc nghiên cứu đƣợc tiến hành trên phạm vi toàn hệ thống Agribank chi nhánh tỉnh Nghệ An. Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng tối đa các dữ liệu đƣợc tổ chức tài chính trong nƣớc công bố, từ đó có thƣớc đo để so sánh với thực trạng và diễn biến nợ xấu đƣợc đƣa ra. Tổng quan nợ xấu ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế.
Ngân hàng thƣơng mại đƣợc xem là một trung gian tài chính có chức năng dẫn vốn từ nơi có khả năng cung ứng vốn đến những nơi có nhu cầu về vốn nhằm tạo điều kiện cho đầu tƣ phát triển kinh tế. Chúng ta có thể xem xét một số khái niệm về NHTM nhƣ sau: 6 z Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam có qui định: NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010 Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu lợi nhuận. Nhƣ vậy, có thể nói NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với hoạt động thƣờng xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan.
Các quan điểm về nợ xấu của ngân hàng thương mại Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu. Quan điểm về nợ xấu khác nhau ở các quốc gia và trong một nền kinh tế dƣới góc nhìn của các chủ thể khác nhau thì quan điểm về nợ xấu cũng có sự khác biệt. Nếu đứng dƣới góc nhìn của các NHTM thì nợ xấu có thể hiểu là những khoản cho vay không có khả năng sinh lời hay những khoản cho vay không còn hoạt động (NPLs: non - performing loans). Những khoản cho vay trở nên không sinh lời khi ngƣời vay dừng việc thanh toán và khoản cho vay này bắt đầu bị vỡ nợ.
Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Định nghĩa về nợ xấu đã đƣợc IMF đƣa ra nhƣ sau: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ” Về cơ bản, nợ xấu theo quan điểm của IMF đƣợc định nghĩa dựa trên hai yếu tố: (i): quá hạn trên 90 ngày, hoặc (ii:) khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Với quan điểm này, nợ xấu đƣợc tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng. Khả năng trả nợ ở đây có thể là khách hàng hoàn toàn không trả đƣợc 7 z nợ, hoặc việc trả nợ của khách hàng là không đầy đủ.