Đặt vấn đề Ngày nay, hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) đóng góp một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Cùng với sự nghiệp đổi mới và đi lên của đất nƣớc thì không thể phủ nhận vai trò đóng góp to lớn của ngành ngân hàng. NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là cầu nối giữa các doanh nghiệp (DN) với thị trƣờng thông qua hoạt động tín dụng, thực hiện chức năng trung gian thanh toán. Hoạt động tín dụng đem lại các khoản thu nhập lãi đáng kể cho NHTM.
Song song với lợi nhuận đem lại, hoạt động tín dụng vẫn luôn tiềm ẩn những rủi ro nằm ngoài tầm phân tích và kiểm soát của ngân hàng. Khi những khoản cho vay không thu hồi đƣợc cả gốc và lãi đúng thời hạn càng lớn, tỷ lệ nợ xấu ngày càng gia tăng làm tăng chi phí trích lập dự phòng và giảm lợi nhuận của NHTM, thậm chí dẫn đến kết quả kinh doanh thua lỗ, ảnh hƣởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng, nợ xấu nếu quá lớn có thể dẫn đến phá sản ngân hàng. Và khi một NHTM có nguy cơ mất khả năng thanh toán thì Ngân hàng Nhà nƣớc (NHNN) sẽ hỗ trợ thanh khoản thông qua nghiệp vụ thị trƣờng mở, cho vay tái cấp vốn. Nếu tình trạng mất khả năng thanh khoản đặc biệt nghiêm trọng thì NHTM có thể bị kiểm soát đặc biệt để tránh rủi ro lan rộng trong hệ thống ngân hàng.
Điển hình là Oceanbank có nợ xấu lên tới gần 15.000 tỷ đồng, chiếm 49,84% tổng dƣ nợ và lỗ gần 10.200 tỷ đồng vào thời điểm 31/03/2014 buộc NHNN phải có biện pháp xử lý đặc biệt và mua lại toàn bộ cổ phần với giá 0 đồng vào ngày 25/04/2015 (Ngọc Toàn 2016). Có thể thấy rằng tỷ lệ nợ xấu cao ảnh hƣởng rất lớn đến hoạt động của NHTM, vì vậy để hoạt động ngân hàng diễn ra an toàn và hiệu quả thì vấn đề xử lý nợ xấu cần phải đƣợc quan tâm giải quyết. Có thể thấy nợ xấu là vấn đề không mong muốn của các NHTM cũng nhƣ NHNN vì nợ xấu không chỉ ảnh hƣởng đến hoạt động kinh doanh của NHTM mà còn có thể ảnh hƣởng đến cả hệ thống ngân hàng nếu tình trạng nợ xấu đặc biệt ii nghiêm trọng. Do đó, việc kiểm soát chất lƣợng tín dụng và xử lý nợ xấu là một thành phần không thể thiếu trong quản trị ngân hàng nhằm đảm bảo hoạt động tín dụng diễn ra an toàn, hiệu quả và mang lại lợi nhuận tối ƣu.
Trong thiết kế các quy định, chính sách về hoạt động tín dụng, các nhà quản trị ngân hàng đã không ngừng nghiên cứu, tìm kiếm các giải pháp để giảm thiểu nợ xấu, mở rộng tín dụng an toàn, hiệu quả nhằm đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng tài chính và sự phát triển bền vững của ngân hàng. Các nhà quản trị phải nghiên cứu các vấn đề về nợ xấu và nguyên nhân dẫn đến nợ xấu mới có thể có những biện pháp, chính sách phù hợp trong việc xử lý nợ xấu. Tính cấp thiết của đề tài Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Bạc Liêu (VCB Bạc Liêu) đƣợc thành lập trên cơ sở nâng cấp từ Phòng giao dịch (PGD) Bạc Liêu trực thuộc VCB Sóc Trăng, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 15/08/2011 với 21 nhân sự, dƣ nợ ban đầu chỉ hơn 240 tỷ đồng, trong đó nợ quá hạn chiếm trên 11%, nợ xấu chiếm 2,9% tổng dƣ nợ (Báo cáo HĐKD của VCB Bạc Liêu, 2011). Sở dĩ hoạt động kinh doanh của chi nhánh bị lỗ liên tiếp trong 2 năm đầu là do nợ quá hạn cao làm tăng chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trong khi chi nhánh mới thành lập nguồn thu chƣa nhiều.
Đến nay, VCB Bạc Liêu đã mở thêm 03 PGD với tổng nhân sự là 48 ngƣời. Dƣ nợ tín dụng đến cuối năm 2017 đã đạt 2.084 tỷ đồng, tăng gấp 8,5 lần so với thời điểm mới thành lập (Báo cáo HĐKD của VCB Bạc Liêu, 2017). Có thể nói hoạt động tín dụng của VCB Bạc Liêu đã tăng trƣởng rất cao trong những năm gần đây. Tuy nhiên, nếu tăng trƣởng mà không kiểm soát đƣợc chất lƣợng tín dụng có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro gia tăng nợ xấu đe dọa đến hiệu quả hoạt động ngân hàng, làm cho chi phí trích lập dự phòng gia tăng, lợi nhuận sụt giảm, nếu nợ xấu quá lớn có thể ảnh hƣởng đến uy tín của ngân hàng.
Do đó, vấn đề kiểm soát chất lƣợng tín dụng và xử lý nợ xấu của VCB Bạc Liêu cần phải đƣợc quan tâm giải quyết. iii Bên cạnh đó, việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của các TCTD trƣớc đây đƣợc thực hiện theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc. Tuy nhiên, kể từ ngày 12/04/2015, các TCTD phải thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng theo Thông tƣ 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 và Thông tƣ 09/2014/TT-NHNN ngày 18/03/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tƣ 02. Theo đó, các NHTM bắt buộc phải phân loại nợ của cùng một khách hàng theo nhóm nợ cao nhất tại các NHTM do Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) cung cấp.
Việc phân loại nợ này đã làm cho dƣ nợ của một số khách hàng tại VCB Bạc Liêu phải phân theo nhóm nợ cao hơn tại các NHTM khác theo thông tin của CIC cung cấp, làm cho nợ xấu của chi nhánh gia tăng, chi phí trích lập dự phòng cũng tăng theo ảnh hƣởng đến lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của chi nhánh. Điều này làm tăng thêm áp lực xử lý nợ xấu cho Ban lãnh đạo chi nhánh, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay phải phân loại nợ theo Thông tƣ 02 và Thông tƣ 09. Áp lực gia tăng nợ xấu từ việc tăng trƣởng tín dụng, cộng thêm thay đổi trong quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro kể trên làm cho vấn đề giải quyết nợ xấu của Vietcombank Bạc Liêu càng trở nên cấp bách. Góp phần đáp ứng đòi hỏi từ thực tiễn nêu trên, tác giả chọn đề tài “Xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Bạc Liêu” làm luận văn thạc sĩ kinh tế.
Mục tiêu của đề tài 2. Mục tiêu tổng quát Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu nợ xấu nhằm đƣa ra các giải pháp xử lý nợ xấu tại VCB Bạc Liêu. Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu cơ sở lý luận chung về nợ xấu tại NHTM. - Phân tích và đánh giá thực trạng xử lý nợ xấu tại VCB Bạc Liêu, những mặt đạt đƣợc, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế từ năm 2013 – 2017.
iv - Dựa vào kết quả phân tích, đánh giá thực trạng xử lý nợ xấu, luận văn đề xuất giải pháp nhằm xử lý nợ xấu tại VCB Bạc Liêu trong thời gian tới. Câu hỏi nghiên cứu Để đạt đƣợc những mục tiêu trên, luận văn sẽ giải quyết những câu hỏi sau đây: - Thứ nhất: Cơ sở lý luận nào cho việc nghiên cứu nợ xấu tại NHTM? - Thứ hai: Thực trạng xử lý nợ xấu tại VCB Bạc Liêu ra sao? - Thứ ba: Giải pháp nào giúp nâng cao việc xử lý nợ xấu tại VCB Bạc Liêu? 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là nợ xấu và giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu tại VCB Bạc Liêu. Phạm vi nghiên cứu: đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu về xử lý nợ xấu phát sinh từ quá trình cho vay của ngân hàng.
Về thời gian nghiên cứu của luận văn này là từ năm 2013 - 2017. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phƣơng pháp nghiên cứu khác nhau nhƣ: phƣơng pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh. Nội dung nghiên cứu Gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Lý luận chung về nợ xấu tại ngân hàng thƣơng mại. - Chƣơng 2: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Bạc Liêu.
- Chƣơng 3: Giải pháp xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Bạc Liêu. Đóng góp của đề tài Về mặt lý luận, luận văn có thể làm tài liệu học tập, nghiên cứu cho sinh viên tại thƣ viện trƣờng Đại học Ngân hàng TP. Về mặt thực tiễn, luận văn cũng đã phân tích đƣợc thực trạng xử lý nợ xấu tại VCB Bạc Liêu giai đoạn từ năm 2013-2017, đánh giá những ƣu điểm và hạn chế, v khó khăn trong quá trình xử lý nợ, từ đó đóng góp các giải pháp nhằm giúp cho chi nhánh trong việc xử lý nợ xấu trong thời gian tới. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Nhƣ đã trình bày ở trên, chất lƣợng cho vay nhƣ thế nào ảnh hƣởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của NHTM.
Nợ xấu cao thì NHTM phải trích lập dự phòng rủi ro cao, làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận của NHTM thậm chí dẫn đến kết quả kinh doanh thua lỗ. Do đó, vấn đề nợ xấu và xử lý nợ xấu luôn đƣợc các nhà quản trị ngân hàng quan tâm giải quyết. Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Hoàng Đình Phi Hải (2016) “Xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Sài Gòn”, luận văn làm rõ cơ sở lý luận chung về nợ xấu và xử lý nợ xấu của ngân hàng thƣơng mại, thực trạng xử lý nợ xấu tại Agribank Chi nhánh Sài Gòn và đƣa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm xử lý nợ xấu tại ngân hàng. Tuy nhiên, trong giải pháp các giải pháp mang tính phòng ngừa nợ xấu, giải pháp “Công tác định giá tài sản đảm bảo và những điều cần lƣu ý” tác giả đề xuất sửa đổi “tất cả các TSBĐ phải đƣợc định giá độc lập” là chƣa thật sự phù hợp vì các khoản vay nhỏ mà có giá trị TSBĐ lớn thì cán bộ có thể tự định giá hoặc định giá theo giá của UBND tỉnh.
Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thanh Mai (2015) “Xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam”, luận văn đã làm rõ những vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay và xử lý nợ xấu tại ngân hàng thƣơng mại, thực trạng nợ xấu tại Eximbank và đƣa ra các giải pháp, kiến nghị để xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, mục 3.