CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ XẤU 1. Nợ xấu Trong quá trình nghiên cứu, tác giả phát hiện rằng có nhiều công trình nghiên cứu về nợ xấu, bao gồm định nghĩa, cách phân loại, nguyên nhân và ảnh hưởng của nợ xấu đến kinh tế, cũng như các phương pháp thu hồi nợ. Tuy nhiên, các tài liệu hiện tại chưa cung cấp một hướng dẫn chi tiết và dễ hiểu về cách phân loại nợ xấu phù hợp với điều kiện thị trường Việt Nam.
Điều này một phần do sự khác biệt về điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội giữa các quốc gia, dẫn đến sự đa dạng trong phương pháp xếp hạng nợ, chuẩn mực kế toán, và hiệu quả quản lý của từng quốc gia. Do đó, cách tiếp cận phân loại và xử lý nợ xấu cũng khác nhau giữa các nước. Đối với các công trình nghiên cứu và báo chí quốc tế, nhắc đến nợ xấu thông thường dùng khái niệm “bad debt”, “non-performing loan” viết tắt là NPL, hoặc “doubtful debt”. Trong thị trường tài chính, ngân hàng sẽ thường dùng “non- performing loans” (NPL).
Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS39 thì gọi nợ xấu là “impaired loans” ". Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), khoản vay thông thường được chia làm 5 nhóm nợ, bao gồm: - Nợ đạt tiêu chuẩn (nhóm 1) - Nợ cần theo dõi (nhóm 2) - Nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) - Nợ đáng ngờ (nhóm 4) - Nợ mất vốn (nhóm 5). Trong đó, Nhóm nợ dưới tiêu chuẩn đến Nợ mất vốn (Nhóm 3-5) là nhóm nợ có thời gian quá hạn trên 90 ngày và có khả năng mất vốn hoặc thu thu hồi vốn (International Monetary Fund, 2019). Định nghĩa này cũng được dùng trên một số quốc gia trên thế giới.
7 Định nghĩa của Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) được chú trọng đến việc khả năng thanh toán của khoản vay mà không cần quan tâm đến khoản nợ đã quá hạn hay chưa, hoặc thời gian khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày, thường được khuyến cáo áp dụng tại các nước phát triển. Phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay (International Accounting Standards Board, 2003) được xem là phương pháp đánh giá khả năng thanh toán nợ của khách hàng, về mặt lý thuyết thì khá chính xác, tuy nhiên trên thực tế hệ thống này gặp nhiều khó khăn về mặt vận hành. Định nghĩa của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) không đưa ra thời gian quá hạn chi trả khi một khoản nợ bị coi là “xấu” (có thể là 30 – 89 ngày, 90 – 179 ngày, trên 180 ngày ở các quốc gia khác nhau) mà cho rằng đó là “khoản nợ đã quá hạn và ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi” (Basel Commitee on Banking Supervision, 2017). Khái niệm nợ xấu của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) căn cứ trên tiêu chí chủ yếu của BCBS, cho rằng “một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và gốc trên 90 ngày trở lên, phù hợp với định nghĩa của Basel II về tổn thất, hoặc khi có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ” (European Central Bank, 2017).
Tại Việt Nam, Theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 20/07/2021, nợ tại TCTD Việt Nam cũng được phân loại thành 5 nhóm gồm: - Nợ đủ tiêu chuẩn (Nhóm 1). - Nợ cần chú ý (Nhóm 2). - Nợ dưới tiêu chuẩn (Nhóm 3). - Nợ nghi ngờ (Nhóm 4).
- Nợ có khả năng mất vốn (Nhóm 5). Thông tư này quy định nợ xấu là nợ được phân loại từ nhóm 3 đến nhóm 5, gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên 90 ngày. Có thể thấy về hình thức, phân loại nợ qua hệ thống ngân hàng của Việt Nam có dựa trên phân loại nợ theo 8 tiêu chuẩn của quốc tế, khá tương đồng so với nhiều quốc gia trên thế giới (Mỹ, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc, …). Nợ xấu tại Việt Nam Theo quy định tại Việt Nam có định nghĩa rõ: "Khoản 8 Điều 3 của Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 thì nợ xấu là: “Nợ xấu nội bảng, thuộc các nhóm 3,4 và 5”.
Phân loại nhóm nợ được áp dụng theo 2 phương pháp đó là định lượng và/hoặc định tính. Theo điều khoản mới nhất về nợ xấu trong Điều 195 của Luật các TCTD số 32/2024/QH15 ban hành ngày 18/01/2024, định nghĩa về nợ xấu đã được mở rộng, bao gồm các loại sau: Nợ xấu của các TCTD và CN Ngân hàng nước ngoài, bao gồm cả những khoản nợ xấu đang được ghi nhận trong bảng cân đối kế toán theo quy định của Thống đốc NHNN, cũng như những khoản nợ xấu đã được xử lý bằng cách sử dụng quỹ dự phòng rủi ro nhưng vẫn chưa thu hồi được và đang được theo dõi ngoài bảng cân đối kế toán. Nợ xấu mà các tổ chức mua bán, xử lý nợ đã mua từ các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhưng vẫn chưa thu hồi được. Mua bán nợ xấu Giao dịch mua bán nợ diễn ra khi bên bán chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ quyền đòi nợ cùng với các quyền liên quan tới khoản nợ cho bên mua, và bên mua sẽ thanh toán cho bên bán.
Trong phạm vi của nghiên cứu này, quá trình mua bán nợ giữa các tổ chức tín dụng (chủ nợ) với các công ty chuyên mua bán nợ hoặc nhà đầu tư sẽ được khảo sát như một phương pháp xử lý nợ xấu. Mua bán nợ được hiểu là quá trình một bên (công ty mua nợ) mua lại các khoản nợ từ một bên khác (khách hàng) mà không cần truy đòi nợ. Công ty mua nợ sẽ cung cấp các dịch vụ liên quan và đánh giá khả năng tín dụng hiện tại và tương lai của 9 người bán để thiết lập hạn mức tín dụng ứng trước. Người bán nợ cần cung cấp cho công ty mua nợ các bản sao hóa đơn liên quan.
Mua bán nợ cũng được coi là một phương thức tài trợ tín dụng, trong đó một công ty có thể chuyển giao toàn bộ hoặc một phần của khoản nợ cho một tổ chức tài chính chuyên nghiệp, thường là một công ty liên kết với ngân hàng. Tổ chức này sẽ chịu trách nhiệm thu hồi nợ và quản lý các khoản phải thu, và có khả năng cung cấp dịch vụ ứng trước nợ dựa trên các điều kiện cụ thể. (Brown, Taylor, & Price, 2005) Mua bán nợ được định nghĩa là một giao dịch tài chính nơi một công ty tài chính chuyên nghiệp mua lại các khoản nợ từ một doanh nghiệp với mức giá thấp hơn giá trị thực tế của khoản nợ. Lợi nhuận của công ty mua nợ đến từ sự chênh lệch giữa số tiền thu hồi được từ khoản nợ và giá mua thực tế.
Đối với công ty bán nợ, họ nhận được tiền mặt ngay lập tức, không cần chờ đợi người nợ thanh toán, giảm thiểu rắc rối và chi phí liên quan đến việc theo đuổi những khoản nợ không được thanh toán kịp thời. Theo Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (FTC, 2013), “mua nợ” được hiểu là quá trình người cho vay hoặc chủ nợ bán một khoản nợ cho bên mua, người này sau đó có thể thu hồi nợ hoặc bán lại cho một bên thứ ba. Tại Việt Nam, theo Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015, hoạt động mua bán nợ của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được định nghĩa là việc ký kết thỏa thuận chuyển giao quyền đòi nợ từ các khoản vay hoặc các khoản nợ phát sinh từ bảo lãnh, nơi bên bán chuyển nhượng quyền sở hữu nợ cho bên mua và nhận thanh toán từ bên mua nợ. Những khái niệm đã nêu rõ ràng chỉ ra rằng thị trường mua bán nợ là một phần không thể tách rời của hệ thống tài chính, nơi diễn ra các giao dịch liên quan đến chứng khoán nợ và vay mượn.
Thị trường này được chia thành hai phân khúc: thị trường sơ cấp, nơi các khoản nợ được phát hành lần đầu, và thị trường thứ cấp, nơi các khoản nợ có thể được mua bán lại thông qua các sàn giao dịch hoặc một cách phi tập trung. Điểm đáng chú ý là, trên phạm vi toàn cầu, mua bán nợ không chỉ 10 giới hạn ở các khoản nợ xấu mà còn bao gồm cả việc giao dịch các khoản nợ có chất lượng tốt, nhằm mục đích tái cấu trúc danh mục đầu tư và tài sản của các cá nhân hoặc tổ chức. Trong bối cảnh Việt Nam, việc mua bán nợ thường được hiểu là quá trình giao dịch các khoản nợ xấu của doanh nghiệp hoặc các TCTD, không tính đến các công cụ nợ khác như trái phiếu. Trong nội dung luận văn này, tác giả sẽ tập trung phân tích đặc biệt vào nợ xấu của các TCTD.
Giao dịch mua bán nợ được diễn ra thông qua việc chuyển nhượng quyền đòi nợ từ người bán cho người mua, và người mua sẽ thực hiện thanh toán cho người bán. Đây là một mối quan hệ pháp lý bao gồm các yếu tố như chủ thể, khách thể, đối tượng và nội dung cụ thể, bao gồm quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hợp đồng. Một số tiêu chí đo lường sự phát triển của hoạt động mua bán nợ xấu Mua bán nợ, khác với giao dịch thông thường, đòi hỏi sự đánh giá và phân loại cẩn thận do nó liên quan đến các khoản nợ chưa thanh toán, phát sinh từ hợp đồng tín dụng. Việc xác định rõ ràng các tiêu chí đánh giá nợ giúp các bên liên quan hiểu rõ tình hình và đưa ra quyết định chính xác.
Theo Nguyễn Thu Hương (2016), hệ thống tiêu chí đo lường sự phát triển của hoạt động mua bán nợ xấu, dựa vào nghiên cứu đó tác đề xuất 4 nhóm chỉ tiêu cần được chú ý, bao gồm: Một là, số lượng các chủ thể tham gia thị trường. Hai là, chất lượng MBNX trên thị trường MBNX. Ba là, kết quả kinh doanh của các chủ thể tham gia thị trường MBNX. Bốn là, tính đa dạng trong hoạt động MBNX.
Số lượng các chủ thể tham gia thị trường Theo Luật sư Hoàng Lê Khánh Linh (2022), mua bán nợ cần được quản lý bởi pháp luật để giảm rủi ro và bảo vệ lợi ích của các bên liên quan, đồng thời góp phần vào sự phát triển ổn định của nền kinh tế. Sự can thiệp của nhà nước qua pháp luật là 11 cần thiết để đảm bảo quyền lợi hợp pháp và hạn chế rủi ro kinh tế cũng như định hình và phát triển hoạt động MBNX theo hướng dẫn của nhà nước.