Chương 1: Giới thiệu đề tài luận văn Chương 2: Tổng quan về nợ xấu và các nghiên cứu về nợ xấu Chương 3: Dữ liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu sử dụng trong mô hình thực nghiệm Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và những hạn chế của đề tài nghiên cứu 1. Ý nghĩa thực tiễn của để tài nghiên cứu Với việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến nợ xấu của những ngân hàng thuộc một số nước ASEAN bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, phần nào giúp nhận diện được những yếu tố chính gây ra nợ xấu cho các ngân hàng thương mại tại các nước nghiên cứu. Từ đó, đưa ra những đề xuất phù hợp dựa trên các kết quả thu được nhằm hạn chế nợ xấu cho các ngân hàng. Ngoài ra, từ kết quả của bài nghiên cứu cũng chỉ ra những điểm còn hạn chế và những khó khăn trong quá trình tác giả thực hiện bài nghiên cứu ở thời điểm hiện tại nhằm mở ra những hướng nghiên cứu mới cho các đề tài nghiên cứu tương tự trong tương lai.
Tính mới của đề tài nghiên cứu Nghiên cứu các yếu tố tác động đến nợ xấu cho các quốc gia trong cùng một khu vực như: Việt Nam, Indonesia, Thailand, Philippines và Malaysia nhằm làm rõ thêm vấn đề về nợ xấu của các nước có những điều kiện kinh tế và môi trường hoạt động ngân hàng gần giống nhau trong khu vực ASEAN. 123doc 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NỢ XẤU VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NỢ XẤU 2.1 Tổng quan về nợ xấu 2.1 Khái niệm về nợ xấu Các chuyên gia tư vấn AEG của Liên Hợp Quốc thống nhất định nghĩa về nợ xấu như sau: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận, hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Theo quan điểm về nợ xấu của NHTW Châu Âu (ECB) cho rằng “Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi hoặc là những khoản cho vay có thể không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng”. Như vậy, quan điểm này được xác định dựa trên kết quả trả nợ cuối cùng của khách hàng đối với ngân hàng.
Theo quan điểm quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) (2005) lại nhấn mạnh: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện không đầy đủ”. Với quan điểm này, nợ xấu được nhận dạng qua hai góc độ: thời gian quá hạn và khả năng trả nợ đáng nghi ngờ. Tại Việt Nam, theo Thông tư số 02/2013/TT – NHNN ngày 21/01/2013 về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong việc hoạt động của tổ chức tín dụng; chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì: “Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)”. Nợ xấu bao gồm tất cả các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 đến nhóm 5 tùy theo cấp độ rủi ro khác 123doc 7 nhau, theo nguyên tắc chỉ cần một khoản vay (trong tổng thể nhiều khoản vay khác) phát sinh quá hạn, hoặc được điều chỉnh kỳ hạn nợ, hoặc gia hạn nợ thì toàn bộ dư nợ này của khách hàng đó phải chuyển sang nhóm nợ xấu.
Như vậy, nợ xấu theo pháp luật Việt Nam được xác định theo 2 yếu tố: (i) đã quá hạn trên 91 ngày hoặc (ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại. Từ những định nghĩa trên cho thấy rằng mặc dù khác nhau về mặt địa lý, về văn hoá và về cách thức hoạt động kinh doanh nhưng vẫn có sự giống nhau trong cách thức nhận diện rủi ro về các khoản vay bị nợ xấu giữa các tổ chức tài chính trên thế giới. Theo các định nghĩa này, một khoản nợ vay được xem là nợ xấu nếu xuất hiện một hoặc cả hai dấu hiệu sau: khách hàng quá thời hạn trả nợ gốc và lãi vay cho các tổ chức tín dụng nói chung hoặc các ngân hàng nói riêng theo các quy định cụ thể thì được coi là mất khả năng trả nợ.2 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu. Theo trung tâm thông tin kinh tế - CIEM (2013): Giải quyết nợ xấu – vấn đề mấu chốt trong tái cơ cấu hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.
Nợ xấu tăng cao xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng trong đó đáng lưu ý là các nhóm nguyên nhân sau đây: - Nhóm nguyên nhân từ môi trường pháp lý về hoạt động ngân hàng: Có thể nói lĩnh vực hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro cao và để giúp giảm thiểu rủi roì luôn đòi hỏi có sự hậu thuẫn của hệ thống pháp luật. Nếu hệ thống pháp luật đồng bộ và hoàn thiện sẽ tạo tiền đề cho sự hoạt động an toàn lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Còn ngược lại, nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, thiếu tính khả thi thì luôn tiềm ẩn rủi ro rất cao đối với hệ thống ngân hàng. Chính vì vai trò quan trọng của môi trường pháp lý, nên tất cả các nước đều rất chú trọng đồng bộ hoá và hoàn thiện các văn bản pháp luật trong hoạt động ngân hàng.
123doc 8 - Nhóm nguyên nhân từ nội bộ hệ thống tài chính của các NHTM: Tình hình nợ xấu của các NHTM hiện nay có một phần lớn nguyên nhân đến từ sự yếu kém từ nội bộ của các ngân hàng, TCTD. Cụ thể: Một là, năng lực quản trị rủi ro của các NHTM, các TCTD yếu kém. Theo kết quả khảo sát năm 2012 của Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách Đại học Quốc gia Hà Nội (VERP), mới chỉ có 47% các NHTM đã tiếp cận với Basel 2 và chỉ có 40% các NHTM đã tiếp cận với Basel 3. Khuôn khổ quản trị hiện hành chưa bảo vệ được quyền cổ đông đối với tất cả các cổ đông.
Vai trò và nhiệm vụ của hội đồng quản trị chỉ tuân thủ một phần hoặc chưa tuân thủ các nguyên tắc quản trị của OECD và Basel. Kết quả tính chỉ số quản trị công ty (CGI) đối với 39 ngân hàng cho thấy, CGI trung bình là 39/100 điểm, mức điểm cao nhất là 60/100, mức thấp nhất là 5/100. Khả năng quản trị rủi ro còn yếu dẫn đến đánh giá khả năng xảy ra rủi ro tín dụng thấp hơn so với thực tế cũng như khả năng ngăn ngừa rủi ro thị trường và tác nghiệp yếu. Hai là, các quy định về công bố thông tin chưa đầy đủ và hiệu lực thi hành thấp gây ra sự thiếu minh bạch.
Nợ xấu không phải mới phát sinh mà được tích lũy trong một khoảng thời gian dài và khi tình hình kinh doanh xấu đi, đặc biệt là trong giai đoạn tăng trưởng tín dụng nóng, khách hàng vay gặp khó khăn về tài chính và hoạt động sản xuất – kinh doanh thì nguyên nhân gây ra tình trạng nợ xấu ngày càng rõ nét. Nợ xấu tăng nhanh gần đây phản ánh chính sách minh bạch hóa và giám sát việc thống kê nợ xấu của ngân hàng, mặc dù NHNN đã và đang chủ trương minh bạch hóa quan hệ tín dụng, thông tin tài chính, nhưng hầu hết các NHTM tại Việt Nam hiện nay đều phân loại nợ dựa vào định lượng mà thiếu đi phần định tính như tình hình tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này dẫn đến việc phân loại nợ không phản ánh thực chất khoản nợ. Đồng thời, các ngân hàng chỉ xếp phần nợ đến hạn không trả được vào nợ xấu (nhóm 3), trong khi phần còn lại của khoản nợ vẫn là nợ đủ tiêu chuẩn (nhóm 2).
123doc 9 Ba là, nợ xấu tăng cao là hệ quả tất yếu của quá trình tăng trưởng tín dụng quá nóng. Sự phát triển nóng của hệ thống NHTM là nguyên nhân gia tăng nợ xấu. Một số ngân hàng nhỏ, năng lực quản trị tín dụng yếu kém đã tìm mọi cách tăng vốn huy động, thúc đẩy tín dụng bằng cách nới lỏng tiêu chuẩn cho vay, cho vay dễ dãi, thiếu các điều kiện bảo đảm cần thiết,. Thực tế những năm qua cho thấy, luôn có sự cạnh tranh rất gay gắt giữa các NHTM để dành dật thị phần.
Các ngân hàng này có xu hướng mở rộng thị phần tín dụng bằng mọi giá, bỏ qua quy trình tín dụng, hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng, tìm cách lẩn tránh hàng rào kiểm soát của Chính phủ. Hoạt động tín dụng là loại hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao, nhưng một số NHTM lại quá mạo hiểm trong khi năng lực và kinh nghiệm về quản trị rủi ro còn yếu, tất yếu rủi ro sẽ gia tăng khó kiểm soát. Bốn là, thông tin tín dụng độ tin cậy kém. Việc ra các quyết định kinh tế về căn bản phải dựa trên những thông tin có độ tin cậy thì các quyết định mới đi vào cuộc sống và đem lại hiệu quả tích cực.
Đối với hoạt động tín dụng thì càng đòi hỏi thông tin phải có độ tin cậy cao khi đó các phán quyết mới chính xác và mới bảo đảm được yêu cầu về chất lượng và hiệu quả. Thực tế tại Việt Nam những năm qua cho thấy, chất lượng thông tin kinh tế rất kém cả về độ chính xác lẫn tính cập nhật. Trong điều kiện như vậy, nếu như đội ngũ cán bộ của các NHTM hạn chế về năng lực và trình độ kế toán tài chính doanh nghiệp, thiếu kỹ năng nắm bắt và nhạy cảm với các diễn biến kinh tế - xã hội thì việc ra phán quyết tín dụng sẽ có xu hướng xa rời thực tiễn và đặt NHTM phải đối diện với rủi ro tín dụng tiềm ẩn. Trong điều kiện hiện nay, khi mà các phán quyết tín dụng căn bản còn phải bám sát các quy định lãi suất của NHNN thì vấn đề rủi ro tín dụng còn được đánh giá chưa toàn diện.
Nhưng nếu các NHTM hoạt động thực sự mang tính thị trường, thì với hệ thống thông tin tín dụng kém độ tin cậy, các NHTM không thể định ra các mức lãi suất chính xác trên cơ sở đánh giá đúng mức độ rủi ro.