Chương 1: Giới thiê ̣u đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổ ng quan về nơ ̣ xấ u và các nhân tố tác đô ̣ng đến nơ ̣ xấ u ta ̣i NHTMCPVN Chương 3: Thực tra ̣ng nơ ̣ xấ u ta ̣i NHTMCPVN giai đoa ̣n 2008-2016 Chương 4: Mô hiǹ h kiể m định các nhân tố tác động đế n nợ xấ u ta ̣i NHTMCPVN Chương 5: Hàm ý giải pháp ha ̣n chế nơ ̣ xấ u ta ̣i NHTMCPVN 123doc 4 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI NHTM VIỆT NAM 2.1 Khái niệm nợ xấu Chuẩn mực kế toán và ngân hàng quốc tế (IABS) cho rằng các khoản nợ bị giảm giá trị là không hiệu quả. Theo IAS 39, khi khoản nợ có dấu hiệu bị giảm giá trị, thì giá trị sổ sách của khoản nợ đó nên giảm xuống để giảm bớt thiệt hại. Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BSBC) cho rằng “khoản nợ bị giảm giá trị khi không thu hồi được.
Giá trị sụt giảm này được tổ chức lại bằng cách giảm giá trị sổ sách thông qua một khoản dự phòng giảm giá tài sản và sẽ được phản ánh trong báo cáo thu nhập của ngân hàng. Do đó, lãi vay sẽ không được cộng dồn và chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt được nhận.” IMF định nghĩa: “Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản). Sau khi các khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho đến thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế.” Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của NHNN quy định "Nợ xấu" là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Tổ chức tín dụng quy định tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng.
Tóm lại, có thể hiểu nợ xấu là khi đến hạn trả nợ khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng như cam kết ban đầu, dẫn đến ngân hàng có khả năng không thu hồi được cả gốc và lãi. Mặt khác, tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được phát mãi cũng không đủ thu hồi nợ gốc và lãi. Và các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên được tính là nợ xấu (Trần Huy Hoàng, 2011).2 Phân loại và đo lường nợ xấu NHTM Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN của thống đốc NHNN Việt Nam, nợ xấu của các tổ chức tín dụng gồm các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 được phân loại theo hai phương pháp định lượng và định tính. Phân loại nợ và cam kết ngoại bảng theo phương pháp định lượng (trừ các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng) - “Nhóm 3 gọi là nợ dưới tiêu chuẩn gồm: (i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; (ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu; (iii) Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; (iv) Nợ gồm các trường hợp sau đây: Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật; Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp; Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật; Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật; Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật; Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; (v) Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra;” 123doc 6 - “Nhóm 4 gọi là nợ nghi ngờ gồm: (i) Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; (iv) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được.” - “Nhóm 5 là nợ có khả năng mất vốn gồm: (i) Nợ quá hạn trên 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; (iv) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; (v) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; (vi) Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản.” Phân loại nợ và cam kết ngoại bảng theo phương pháp định tính - “Nhóm 3 là nợ dưới tiêu chuẩn gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn.
Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất. Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết.” - “Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao. Các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng không thực hiện cam kết là rất cao.” - “Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Các cam kết ngoại bảng mà khách hàng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết.” 123doc 7 NHNN yêu cầu các TCTD trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản nợ gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung.
Tỷ lệ trích lập dự phòng cho các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 lần lượt là 0%, 5%, 20%, 50%, 100% giá trị khoản nợ. Tỷ lệ trích lập dự phòng chung là 0.75% trên tổng giá trị khoản nợ đối với các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4. Khách hàng có các khoản nợ và cam kết ngoại bảng được phân vào nhóm nợ có mức độ rủi ro thấp hơn nhóm nợ được CIC cung cấp. Đối với khách hàng có từ hai khoản nợ này trở lên tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, nếu bất kỳ khoản nợ nào bị phân loại vào nhóm có mức độ rủi ro cao hơn các khoản nợ khác thì TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó phải phân loại lại các khoản nợ còn lại của khách hàng vào nhóm có mức độ rủi ro cao nhất.
Như vậy, việc đánh giá các khoản nợ xấu của khách hàng được thống nhất trong toàn bộ các TCTD, nếu có một khoản được đánh giá là nợ xấu thì tất cả các khoản nợ bị xem là nợ xấu.3 Tác động của nợ xấu Không chỉ tác động tiêu cực trong lĩnh vực ngân hàng mà nợ xấu còn tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Nợ xấu sẽ làm giảm uy tín của ngân hàng đối với thị trường trong nước và quốc tế. Khi uy tín của ngân hàng suy giảm sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy như giảm giá chứng khoán, khả năng huy động tiền gửi khó khăn, suy giảm thanh khoản… Trong khảo sát về uy tín của ngân hàng, nợ xấu là một trong những chỉ tiêu về tài chính được VietNam Report bình chọn. Các ngân hàng bị hạ mức tín nhiệm trên xếp hạn của Moody's và Fitch khi nợ xấu tăng cao.
Việc hạ mức tín nhiệm này là một trong những khó khăn mà các ngân hàng phải đối mặt nếu muốn huy động vốn trên thị trường quốc tế. Khi ngân hàng không thu hồi được nợ gốc và lãi bắt buộc phải trích lập dự phòng và các chi phí liên quan, khoản tiền dùng để trích lập dự phòng được lấy từ lợi nhuận của ngân hàng. Do đó, nợ xấu sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng. 123doc 8 Các ngân hàng bắt buộc phải sử dụng vốn chủ sở hữu để trích lập dự phòng rủi ro khi lợi nhuận không đủ.
Khi nợ xấu quá lớn đến một mức nào đó thì vốn chủ sở hữu sẽ bị âm và hậu quả là các ngân hàng dẫn đến nguy cơ phá sản. NHNN đã chủ trung thực hiện sáp nhập hoặc mua lại các ngân hàng yếu kém trong thời gian qua để hạn chế nguy cơ phá sản ngân hàng. Đối với nền kinh tế, nợ xấu tăng cao sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững. Chi phí hữu hình và chi phí vô hình về xử lý nợ xấu càng lớn khi thời gian xử lý nợ xấu càng kéo dài.