Mở đầu là nghiên cứu Trương Quang Thông (2013) đã đặt nền móng cho các nghiên cứu sau này với đề tài “Phân tích các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2002-2011” với bộ dữ liệu được thu thập từ báo cáo thường niên của 27 ngân hàng. RRTK trong bài được đo lường bằng mô hình “khe hở tài trợ” với việc sử dụng 3 cách tiếp cận là mô hình kết hợp tất cả các quan sát (Pooled), mô hình hồi quy tác động có định (FEM) và hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM), nghiên cứu chi ra rằng RRTK của ngân hàng chịu sự tác động của các yếu tố bên trong và cả bên ngoài ngân hàng. Cụ thể là các biến vay liên ngân hàng và tỷ lệ vốn tự có trên nguồn vốn có quan hệ đồng biến với RRTK, trong khi dự trữ thanh khoản và tăng trưởng kinh tế có quan hệ nghịch biến với RRTK. Ngoài ra, RRTK còn chịu tác động của các biến khác như quy mô tổng tài sản, lạm phát và độ trễ của chính sách.
Nghiên cứu còn cho ra một kết quả đáng chú ý là quy mô tong tài sản có tác động phi tuyến đến RRTK của ngân hàng và lạm phát của năm nay tuy không ảnh hưởng đến RRTK trong năm đó nhưng sẽ làm giảm RRTK trong năm sau đó. Trong nghiên cứu này tác giả không phát hiện sự tác động của chi phí dự phòng rủi ro tín dụng và tốc độ tăng cung tiền M2 đến RRTK của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Một nghiên cứu khá nổi bật là của Đặng Văn Dân (2015) về “Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn 2007- 2014” với bộ dữ liệu của 15 ngân hàng lớn. Bang 3 mô hình là bình phương nhỏ nhất Pooled PLS, hồi quy tác động có định (FEM), hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM), sau khi loại bỏ các biến thừa thì nghiên cứu đã cho ra kết quả rằng RRTK có quan hệ nghịch chiều với quy mô tổng tài sản và cùng chiều với tỷ lệ cho vay trên tông tài sản.
Khi ngân hàng có quy mô lớn thì lợi thế cạnh tranh trên thị trường sẽ tăng lên và RRTK từ đó cũng giảm đi, và những ngân hang cho vay nhiêu thì dự trữ thanh khoản sẽ giảm và RRTK tăng lên. Khác với cách tiếp cận của hai nghiên cứu trên, Vũ Thị Hồng (2015) đã nghiên cứu “Các yếu tô ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2006-2011” thông qua các chỉ số thanh khoản với bộ dữ 13 liệu lấy từ báo cáo tài chính hợp nhất của 37 ngân hàng. Bằng phương pháp hồi quy tác động có định (FEM), nghiên cứu đã chỉ ra tác động của các yếu tố bên trong tới khả năng thanh khoản của ngân hàng, cụ thê là tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tỷ lệ lợi nhuận có mối liên hệ cùng chiều, trong khi đó tỷ lệ cho vay trên huy động có mối liên hệ ngược chiều với khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu này không tìm thấy tác động của quy mô ngân hàng, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng đối với khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Võ Xuân Vinh và Mai Xuân Đức (2017) nghiên cứu “Ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2009-2015” với bộ dit liệu của 35 ngân hàng. Bằng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), hồi quy tác động cô định (FEM) và hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM), nghiên cứu đã chỉ ra rang sở hữu nước ngoài càng cao thi RRTK càng thấp và ngược lại. Thêm vào đó, tín dụng và RRTK năm trước có quan hệ cùng chiều với RRTK của ngân hang trong năm hiện tại. Kế thừa các nghiên cứu đã có, Đặng Quyết Thắng (2018) tiếp tục nghiên cứu “Những nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của cá ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2007-2017” với bộ đữ liệu 17 ngân hàng.
Bằng phương pháp hồi quy với ba mô hình là mô hình bình phương nhỏ nhất OLS, mô hình tác động có định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ cùng chiều giữa RRTK và các biến cho vay, quy mô tổng tài sản, tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn, trong khi đó biến vĩ mô như tốc độ tăng trưởng tác động ngược chiều lên RRTK. Nghiên cứu không tìm thấy sự ảnh hưởng của biến tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tông dư nợ, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu va lạm phát lên RRTK. Phan Thị Mỹ Hạnh và Tống Lâm Vy (2019) đã nghiên cứu “Các yếu tô ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2017” với bộ dữ liệu lay từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 21 ngân hàng. Bằng phương pháp hồi quy với mô hình các yếu tố tác động ngẫu nhiên (REM), nghiên cứu đã cho thấy quy mô tổng tài sản tương quan nghịch với RRTK, trong khi đó tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn, sự phụ thuộc các nguồn tài trợ bên ngoài, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế tương quan thuận với RRTK.
Tác giả cũng chỉ ra 14 tác động của ty lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng du nợ và yếu tố khủng hoảng kinh tế không có ý nghĩa trong nghiên cứu này. Giống với các nghiên cứu trước, Nguyễn Thành Đạt (2019) nghiên cứu “Ảnh hưởng của các yếu tố đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008-2017” với bộ dữ liệu của 27 ngân hàng. Băng phương pháp hồi quy tác động có định (FEM) và tác động ngẫu nhiên (REM), nghiên cứu đã chỉ ra là RRTK có mỗi liên hệ ngược chiều với quy mô tổng tài sản và cùng chiều với tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu và tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cho thấy các biến tăng trưởng kinh tế, lạm phát và tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn không có ý nghĩa thống kê.
Khái quát lại, các nghiên cứu trên hầu hết sử dụng chỉ số khe hở tài trợ đại diện cho rủi ro thanh khoản, và cùng nghiên cứu trong phạm vi các ngân hàng Việt Nam nhưng qua nhiều giai đoạn nên bên cạnh các kết quả chung như tỷ lệ cho vay, tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn, tỷ lệ nợ xấu, quy mô ngân hàng, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu có tác động đến rủi ro thanh khoản ngân hàng và một số nhân tô như tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng du nợ không có ý nghĩa trong nghiên cứu này thì vẫn còn nhiều mâu thuẫn về chiều hướng tác động của các nhân té dé các nghiên cứu sau tiếp tục kế thừa và phát huy. Khoảng tréng nghiên cứu Nhìn chung các nghiên cứu đã thực hiện đều thống nhất sử dụng một số biến là những yếu tố bên trong ngân hàng như quy mô ngân hàng, tỷ lệ cho vay trên tong tài sản, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, hệ số an toàn vốn, tỷ lệ nợ xấu, và một vài biến vi mô như tăng tưởng kinh tế và ty lệ lam phát dé phân tích tác động đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Tuy nhiên các nghiên cứu van còn tôn tại một sô khoảng trông sau: Một là, những nghiên cứu về đề tài này ở Việt Nam đều thực hiện với số liệu trước năm 2017 nên cần những nghiên cứu với số liệu cập nhật hơn dé xem xét, đánh giá những tác nhân ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam đến thời điểm hiện tại, từ đó giúp các ngân hàng có được những thông tin mới hơn về thực trạng và đưa ra những chính sách phù hợp hơn dé phát triển ngân hàng. 15 Hai là, một số nghiên cứu trước đây kết luận rằng các biến như quy mô ngân hàng, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ, hệ số an toàn vốn không có ý nghĩa trong phân tích này.
Trong khi đó một số nghiên cứu khác lại cho ra kết quả là chúng có tác động đến RRTK. Vậy cần thêm những nghiên cứu tiếp tục phân tích xem các biến trên có thực sự ảnh hưởng đến RRTKở các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay hay không. Ba là, các nghiên cứu trước đây chưa xem xét đến mối liên hệ giữa số năm thành lập ngân hàng và rủi ro thanh khoản. Vì vậy, cần thêm những nghiên cứu phân tích cả yếu tố này dé xem xét liệu số tuổi của ngân hàng có tác động đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam hiện nay hay không.
16 TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Ở chương này, tác giả trình bày các lý thuyết liên quan đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Những lý thuyết này là nền tảng vững chắc đề tìm hiểu và giải thích về các nhân té tác động đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Đồng thời tác giả cũng tóm tắt kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và ngoài nước trước đây về đề tài này, các kết quả có sự tương đồng và cũng có vài điểm khác biệt còn mâu thuẫn. Tuy nhiên, những nghiên cứu đó đã góp phần tạo ra cái nhìn tổng quát về rủi ro thanh khoản trong ngành ngân hàng, và từ đó, tác giả đã kế thừa và tiếp tục nghiên cứu phân tích rõ ràng hơn với trường hợp của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2011-2021 được trình bày tiếp ở hai chương sau.
17 CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Đề xuất mô hình nghiên cứu Từ cơ sở lý thuyết cũng như tông quan từ các nghiên cứu trước đây và dé phù hợp với điều kiện thu thập số liệu, tác giả quyết định lựa chọn ra các biến độc lập và biến phụ thuộc dé đưa vào mô hình phân tích như sau: Quy mô ngân hàng Hệ số an toàn vốn (SIZE) (CAR) Số năm thành lập Khe hở Tỷ lệ sinh lời trên (AGE) tài trợ vôn chủ sở hữu (FGAP) (ROE) Ty lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên Ty lệ cho vay trên tông dư nợ tổng tài sản (LTA) (LLPTL) Hình 2.