CHƯƠNG 1: TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. SVTH: ĐỖ LÊ DUY – MSSV: 506401018 – 06VQT1 Trang 1 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Đình Nguyên 1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la-tinh là credo có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm, trên thực tế thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều cách khác nhau, ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng được hiểu như sau: Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng hoặc các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) trong đó chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Như vậy, bản chất của tín dụng là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi giữa một bên là ngân hàng một bên là những người đi vay – đây là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ đôi bên cùng có lợi, đối tượng vay mượn ở đây là tiền tệ, “theo Linh, (2009), Nghiệp vụ tín dụng cho doanh nghiệp” 1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng Nhu cầu vay vốn của khách hàng rất phong phú và đa dạng nên tín dụng ngân hàng có nhiều hình thức khác nhau.
Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng phân loại cho vay dựa vào căn cứ sau đây: 1.1 Căn cứ vào mục đích tín dụng: Tín dụng cho kinh doanh bất động sản gồm các khoản vay tài trợ mua sắm và xây dựng bất động sản như nhà ở, đất đai, bất động sản khác… Tín dụng cho công nghiệp và thương mại: là loại cho vay giúp các doanh nghiệp trang trải các chi phí trong sản xuất. Tín dụng cho nông nghiệp: là loại cho vay để hỗ trợ nông dân trang trải các chi phí sản xuất như: phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động. Tín dụng cho các định chế tài chính: bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác. SVTH: ĐỖ LÊ DUY – MSSV: 506401018 – 06VQT1 Trang 2 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Đình Nguyên Tín dụng cho lĩnh vực dịch vụ: bao gồm cấp tín dụng cho các loại hình kinh doanh du lịch, khách sạn, nhà hàng, internet… Tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình: là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân như: mua sắm các vật dụng đắt tiền và các khoản cho vay để trang trải chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.2 Căn cứ vào thời hạn cấp tín dụng: Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn đến 1 năm.
Ví dụ: Đáp ứng cho nhu cầu mua các vật dụng trong gia đình, nộp học phí cho con cái, nhu cầu trả lương cho công nhân viên của DN, nhu cầu mua nguyên vật liệu, bổ sung vốn lưu động,… Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm. Ví dụ: mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng, mua nhà, sửa nhà, mua ô tô,… Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Ví dụ: bổ sung tài sản cố định, hiện đại hóa trang thiết bị, đầu tư cơ sở sản xuất mới, đầu tư vào dự án lớn… 1.3 Căn cứ bảo đảm tín dụng Tín dụng không bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Tín dụng có bảo đảm: là loại cho vay có sự bảo đảm của tài sản thế chấp, cầm cố hay có bảo lãnh của bên thứ ba.4 Căn cứ vào xuất xứ tín dụng Tín dụng trực tiếp: ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho người có nhu cầu đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
Tín dụng gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.5 Căn cứ vào phương thức hoàn trả: Tín dụng trả góp: là loại cho vay khách hàng phải trả hết gốc và lãi các kỳ hạn đã xác định. Tín dụng phi trả góp: gốc trả 1 lần khi đáo hạn, lãi trả 1 lần hoặc nhiều lần. SVTH: ĐỖ LÊ DUY – MSSV: 506401018 – 06VQT1 Trang 3 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Đình Nguyên 1.3 Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng.Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, www.vn) Việc xác lập một quy trình tín dụng và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệt quan trọng đối với một ngân hàng thương mại. Về mặt hiệu quả, một quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng.
Về mặt quản lý, quy trình tín dụng có tác dụng: Làm cơ sở cho việc phân định quyền, trách nhiệm cho các bộ phận trong hoạt động tín dụng. Làm cơ sở để thiết lập các hồ sơ, thủ tục vay vốn.2 NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm nợ xấu Tín dụng là một hoạt động luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, hoạt động tín dụng còn được xem như một nghiệp vụ quản trị rủi ro để sinh lợi trong kinh doanh ngân hàng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng nhưng tựu trung lại rủi ro tín dụng có thể được hiểu là việc ngân hàng không thể thu hồi được toàn bộ gốc và lãi khi khoản vay đến hạn. Và khi một khoản vay không thể thu hồi hay có nguy cơ không thể thu hồi nợ gốc và lãi thì người ta gọi đây là một khoản nợ xấu.
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về nợ xấu, sau đây là một số quan điểm về nợ xấu đang được áp dụng trên thế giới và Việt Nam: 1.1 Theo quốc tế: Theo một số tiêu chí của NHTW Liên minh châu Âu: Nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của NHTM không chỉ có những khoản vay quá hạn thông thường không có khả năng thu hồi theo hợp đồng mà còn có các khoản nợ chưa quá hạn nhưng tiềm ẩn các rủi ro dẫn đến việc có thể không thanh toán đầy đủ gốc và lãi cho ngân hàng. SVTH: ĐỖ LÊ DUY – MSSV: 506401018 – 06VQT1 Trang 4 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Đình Nguyên Theo quan điểm của Phòng thóng kê – liên hiệp quốc: Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng sẽ được thanh toán đầy đủ. Theo chuẩn mực kế toán quốc tế - IAS: nợ xấu là những khoản nợ quá hạn trên 90 ngày và/hoặc khả năng trả nợ nghi ngờ. Ngoài ra hiện nay còn có một định nghĩa mới về nợ xấu theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và IAS 39 vừa được chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) công bố tháng 12 năm 1999 và sau 2 lần chỉnh sửa (lần 1 vào tháng 12 năm 2000, lần 2 vào tháng 12 năm 2003) và được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005.
Về cơ bản IAS 39 chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay (xếp hạng khách hàng). Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, nó đang được ủy ban kế toán quốc tế tiếp tục nghiên cứu để hoàn chỉnh.2 Ở Việt Nam Nợ xấu có nhiều tên gọi khác nhau như: nợ không lành mạnh, nợ có vấn đề, nợ khó đòi, nợ không thể đòi…nhưng nhìn chung nợ xấu là các khoản nợ có một hoặc tất cả các đặc trưng sau: - Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng khi các cam kết này đã đến hạn ít nhất 90 ngày.
- Tình hình tài chính khách hàng có chiều hướng xấu dẫn tới có khả năng Ngân hàng không thu hồi được cả vốn và lãi. - Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá giá trị phát mãi không đủ để trả nợ gốc và lãi.2 Các dấu hiệu của những khoản nợ xấu Thực tế cho thấy việc thất bại trong hoạt động kinh doanh thường được biểu hiện qua một vài dấu hiệu báo động. Có những dấu hiệu mờ nhạt, có những dấu hiệu biểu hiện rất rõ ràng. Ngân hàng cần có cách nhận ra những dấu hiệu ban đầu của khoản vay có vấn đề và có những hành động cần thiết để ngăn ngừa và xử lí SVTH: ĐỖ LÊ DUY – MSSV: 506401018 – 06VQT1 Trang 5 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Đình Nguyên chúng.
Các dấu hiệu của khoản tín dụng có vấn đề có thể được chia thành các nhóm sau: Nhóm 1: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng: Trong quá trình hạch toán của khách hàng, xu hướng của các tài khoản của khách hàng qua một quá trình để cung cấp cho ngân hàng một số dấu hiệu quan trọng gồm: - Phát hành séc quá bảo chứng hoặc bị từ chối. - Khó khăn trong thanh toán lương. - Sự giảm sút số dư tài khoản tiền gửi. - Tăng mức sử dụng bình quân trong các tài khoản.
- Thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu động có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn. - Không có khả năng thực hiện các hoạt động cắt giảm chi phí.