CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN CÂY CÀ PHÊ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm chung Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền, tài sản hoặc khác) giữa bên cho vay và bên đi vay trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. [1] Tại khoản 1, Điều 3 Quyết định số 1627/2001/QD-NHNN ngày 31/12/2001 quy định: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.[24] Trong phạm vi của luận văn này, cho vay cây cà phê là một phần của tín dụng cây cà phê : NH chuyển một lượng giá trị tiền tệ sang người đi vay (tổ chức, cá nhân vay phục vụ mục đích chăm sóc, chế biến, thương mại cà phê) và người đi vay có trách nhiệm hoàn trả NH nơi cho vay cả gốc và lãi vay.2 Phân loại, đối tượng tín dụng 1.1 Theo mục đích sử dụng vốn vay - Phân theo mục đích sử dụng vốn vay tín dụng gồm: Cho vay kinh doanh bất động sản: gồm các khoản vay xây dựng ngắn hạn; dài hạn tài trợ cho việc mua đất canh tác, nhà cửa và bất động sản khác. Cho nông nghiệp: Loại vay nhằm hỗ trợ nông dân trong sản xuất. Cho vay công nghiệp và thương mại: Loại vay giúp doanh nghiệp trang trải các chi phí trong sản xuất.
Cho vay cá nhân: đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân. Cho vay các tổ chức tài chính: Là loại tín dụng dành cho tín dụng ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác. Trang 1/77 z Tài trợ thuê mua: Tín dụng ngân hàng mua thiết bị, máy móc.cho khách hàng thuê. Cho vay khác: Gồm các loại không xếp hạng trên và các khoản cho vay kinh doanh chứng khoán.
-Theo phạm vi đề tài thì phân loại theo mục đích cho vay cà phê gồm: Mục đích chăm sóc cây cà phê: KH vay nhằm chi trả chi phí tiền công, chi phí thuê máy móc, công cụ, chi phí mua nguyên vật liệu nhân công, vật tư chăm sóc cà phê và chi phí hợp lý khác. Mục đích bổ sung vốn lưu động kinh doanh thu mua, chế biến cà phê trong nước và xuất khẩu.2 Theo thời hạn tín dụng Thời hạn tín dụng được phân làm 3 loại: Ngắn hạn: Loại vay có thời hạn đến 12 tháng. Trung hạn: Loại vay có thời hạn cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng. Dài hạn: Loại vay có thời hạn trên 5 năm.3 Theo đảm bảo Cho vay có đảm bảo: Biểu hiện ở việc cầm giữ vật thế chấp, cầm cố nào đó hoặc qua một bảo lãnh bên thứ ba.
Áp dụng với khách hàng có: sự yếu kém về tài chính (lí do thông thương nhất) hoặc kỳ hạn cho vay dài hoặc do tâm lý NH khi không đánh giá được ý chí trả nợ từ phía người vay. Cho vay không đảm bảo: Là loại cho vay ngược lại, nó được dựa trên sự liêm khiết về tài chính của người vay, lợi tức có thể được trong tương lai. (Trái với điều người ta vẫn tin, những khoản cho vay lớn nhất được một số NH thực hiện lại dựa trên cơ sở không đảm bảo) cũng cần chú ý là không chỉ có doanh nghiệp là những đơn vị duy nhất được vay không đảm bảo mà nó còn gồm cả các cá nhân. Cho vay cà phê đa phần là cho vay có tài sản đảm bảo.4 Theo phương thức cấp tín dụng - Theo quy định tại Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 có quy định rõ phương thức cấp tín dụng gồm: Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và TCTD thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: TCTD và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Cho vay theo dự án đầu tư: TCTD cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. Cho vay trả góp: Khi vay vốn, TCTD và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định.
TCTD và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: TCTD chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý TCTD. Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà TCTD thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Cho vay lưu vụ: là phương thức cho vay cá nhân, hộ gia đình để trồng, chăm sóc các cây trồng có tính mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm, theo đó ngân hàng và khách hàng có thoả thuận dư nợ gốc của chu kỳ trước (Hợp đồng tín dụng ban đầu) tiếp Trang 3/77 z tục được sử dụng cho chu kỳ tiếp theo nhưng không được vượt quá thời gian của 2 chu kỳ liên tiếp - Đối với cho vay cà phê thì phương thức cho vay là: vay từng lần, vay theo hạn mức tín dụng, vay theo hạn mức thấu chi và vay lưu vụ.2 Đối tượng được cấp tín dụng - Theo quyết định số 1627/2001/QD-NHNN ngày 31/12/2001 thì đối tượng khách hàng vay của các TCTD là: a) Các pháp nhân và cá nhân Việt Nam gồm: - Các pháp nhân là: Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức khác có đủ các điều kiện quy định tại Điều 94 Bộ Luật Dân sự; - Cá nhân; - Hộ gia đình; - Tổ hợp tác; - Doanh nghiệp tư nhân; - Công ty hợp doanh.
b) Các pháp nhân và cá nhân nước ngoài.3 Rủi ro tín dụng 1.1 Khái niệm Theo Khoản 1, Điều 3 Thông tư 02/2013/TT-NHNN ban hành ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.” Rủi ro tín dụng là một phạm trù kinh tế, nó phản ảnh sự thiệt hại, tổn thất của ngân hàng trong hoạt động Trang 4/77 z cho vay; làm giảm thu nhập, giảm lợi nhuận và nếu trầm trọng, có thể làm giảm vốn chủ sở hữu hoặc phá sản ngân hàng. [21] Như vậy có thể hiểu rủi ro tín dụng trong cho vay cà phê là khả năng xảy ra những tổn thất về tài chính mà Ngân hàng gánh chịu do khách hàng không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi.2 Các loại rủi ro tín dụng Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng nói chung và rủi ro cho vay cà phê nói riêng được phân thành các loại sau: Rủi ro giao dịch: là một hình thức rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
Cho vay cà phê chịu rủi ro trong việc lựa chọn khách hàng cho vay không phù hợp. Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng được phân chia thành 2 loại rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
Trang 5/77 z Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng biệt trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của mỗi khách hàng. Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình vay có rủi ro cao. Riêng đối với rủi ro cho vay cà phê tại Việt Nam thì rủi ro lớn gặp phải là rủi ro nội tại như: + Rủi ro hình thức kinh doanh ký gửi: Rủi ro gặp phải là khi giá thị trường xuống thấp, để đảm bảo nguồn vốn quay vòng, trả nợ ngân hàng hoặc cho mục đích khác.
Khi KH chốt giá, giá cà phê tăng cao, các đơn vị thu mua cà phê không có khả năng chi trả và cũng không có hàng tồn kho.