Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nợ xấu của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Tĩnh. Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Tĩnh 4 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về Ngân hàng thƣơng mại 1.
Ngân hàng thương mại NH có thể định nghĩa đơn giản là tổ chức hoạt động kinh doanh cung cấp các dịch vụ Ngân hàng để tìm kiếm lợi nhuận. Theo Luật các TCTD năm 2010: NHTM là loại hình NH đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. NHTM là TCTD thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của NH là huy động vốn và cho vay vốn. NHTM là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan hiếm.
Các hoạt động của Ngân hàng thương mại Điều 98 – Luật các TCTD năm 2010 quy định các hoạt động của NHTM bao gồm: a. Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác b. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nƣớc và nƣớc ngoài c. Cấp tín dụng dƣới các hình thức sau đây: 1 Cho vay 2 Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhƣợng và giấy tờ có giá khác 3 Bảo lãnh ngân hàng 4 Phát hành thẻ tín dụng 5 Bao thanh toán trong nƣớc, bao thanh toán quốc tế đối với các NH đƣợc phép thực hiện thanh toán quốc tế 6 Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi đƣợc NHNN chấp thuận d.
Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng 5 z e. Cung ứng các phƣơng tiện thanh toán f. Cung ứng các dịch vụ thanh toán sau đây: 1. Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nƣớc bao gồm: séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thƣ tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ 2.
Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi đƣợc NHNN chấp thuận. Tín dụng Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng Ngân hàng thương mại. Tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời chủ sở hữu sang ngƣời sử dụng vốn, sau một thời gian nhất định ngƣời sử dụng có trách nhiệm hoàn trả cho ngƣời sở hữu một lƣợng lớn hơn giá trị ban đầu.
Tín dụng NH là quan hệ tín dụng giữa một bên là NH với một bên là các tổ chức kinh tế, cá nhân, hộ gia đình trong xã hội trong đó NH giữ vai trò ngƣời thủ quỹ cho toàn xã hội. Tín dụng NH ra đời với nhiệm vụ huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để tạo thành một quỹ cho vay, đáp ứng nhu cầu về vốn cho các DN và các thành phần kinh tế khác. Nguyên tắc của tín dụng NH gồm: Thứ nhất, khách hàng phải cam kết hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian xác định. Tính hoàn trả là thuộc tính vốn có của tín dụng.
Sự hoàn trả là mối quan tâm hàng đầu của NH khi cho vay. Thu hồi nợ đúng hạn là cơ sở để các NHTM tồn tại và phát triển. Chúng ta biết rằng, vốn cho vay của NH là vốn huy động của những ngƣời tạm thời có vốn nhàn rỗi nên sau một thời gian nhất định NH phải trả lại cho ngƣời gửi tiền cộng với số lãi tiền gửi. Mặt khác, NH cần phải có nguồn để bù đắp chi phí hoạt động nhƣ: Khấu hao tài sản cố định, trả lƣơng cán bộ công nhân viên, chi phí văn phòng.
nên ngƣời vay vốn ngoài việc trả nợ gốc còn phải trả NH một khoản lãi. Nếu NH không thu hồi hoặc thu hồi không đúng hạn các khoản cho vay thì có khả năng dẫn tới mất khả năng thanh toán và phá sản. Để thực hiện nguyên tắc này, trong quản lý tín dụng NH phải xác định thời hạn cho vay và các kỳ hạn trả nợ của từng khoản cho vay phù hợp với khả năng huy động vốn của mình 6 z cũng nhƣ khả năng hoàn trả vốn của khách hàng, đồng thời thƣờng xuyên đôn đốc khách hàng trong việc trả nợ đúng hạn. Thứ hai, khách hàng phải cam kết sử dụng vốn tín dụng theo đúng mục đích đã thoả thuận với NH.
Việc sử dụng vốn đúng mục đích sẽ giúp DN sử dụng nguồn vốn vay một cách có hiệu quả và giảm thiểu rủi ro cho NH. Theo nguyên tắc này thì mọi khoản vay đều phải xác định trƣớc về mục đích kinh tế. Bởi vậy, các khách hàng vay vốn đều phải trình bày trƣớc với NH mục đích vay vốn, kế hoạch trả nợ vay để NH xem xét quyết định cho vay. NH có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay của khách hàng bằng cách kiểm tra thƣờng xuyên và đột xuất các khoản vay sau khi giải ngân.
Thứ ba, khách hàng phải có phƣơng án kinh doanh khả thi và có lãi. Nguyên tắc này đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc thứ nhất. Khách hàng kinh doanh có lãi mới có khả năng hoàn trả đầy đủ gốc và lãi đúng hạn cho NH. Ngoài ra, hầu hết các DN, cá nhân vay vốn đều yêu cầu phải có TSBĐ.
Hoạt động tín dụng của NHTM trong nền kinh tế thị trƣờng luôn chứa đựng những rủi ro, bởi vậy việc đảm bảo tín dụng nhằm mục tiêu an toàn vốn cho NH đƣợc coi là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của NH. Để đảm bảo nguyên tắc này, trƣớc khi cho vay, NH phải xác định đƣợc giá trị tài sản cầm cố, thế chấp và các vấn đề pháp lý có liên quan để xác định mức cho vay hợp lý. Hình thức tín dụng Ngân hàng: Có thể phân chia tín dụng theo nhiều tiêu thức khác nhau tùy vào yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của NH. Phân chia theo thời gian: Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với NH vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng nhƣ khả năng hoàn trả của khách hàng.
Theo thời gian, tín dụng đƣợc phân thành: - Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống, tài trợ cho tài sản lƣu động. - Tín dụng trung hạn: Từ 1 năm đến 5 năm, tài trợ cho các tài sản cố định. - Tín dụng dài hạn: Trên 5 năm, tài trợ cho các dự án có thời gian sử dụng lâu. 7 z Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn tại NHTM thƣờng cao hơn tín dụng trung, dài hạn.
Tín dụng trung, dài hạn thƣờng có rủi ro cao hơn, nguồn vốn đắt và khan hiếm hơn. Phân chia theo hình thức tài trợ tín dụng: NHTM đƣợc cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dƣới các hình thức cho vay, chiết khấu thƣơng phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của pháp luật và của NHNN. - Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng.
Cho vay thƣờng đƣợc định lƣợng theo hai chỉ tiêu: Doanh số cho vay trong kỳ và dƣ nợ cuối kỳ. Doanh số cho vay trong kỳ là tổng số tiền mà NH đã cho vay ra trong kỳ. Dƣ nợ cuối kỳ là số tiền mà NH hiện đang còn cho vay vào thời điểm cuối kỳ. Khi lập các báo cáo tài chính (thời điểm), cho vay đƣợc ghi dƣới hình thức dƣ nợ.
- Chiết khấu thƣơng phiếu là một hình thức tín dụng ngắn hạn của NHTM đƣợc thực hiện dƣới hình thức khách hàng sẽ chuyển nhƣợng quyền sở hữu thƣơng phiếu chƣa đến hạn thanh toán cho NH để nhận một khoản tiền thấp hơn mệnh giá của thƣơng phiếu. Số tiền chênh lệch giữa mệnh giá thƣơng phiếu so với số tiền khách hàng nhận đƣợc gọi là lãi chiết khấu và phí hoa hồng. - Cho thuê là việc NH bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những thỏa thuận nhất định. Thuê tài chính là một hình thức vay vốn.
Ký kết một hợp đồng thuê tài chính giống nhƣ đi vay tiền. Khi một hợp đồng thuê tài chính đƣợc ký kết, ngƣời thuê lập tức có đƣợc một luồng tiền vào, do ngƣời thuê không phải bỏ tiền ra mua tài sản. Nhƣng ngƣời thuê cũng phải cam kết trả các khoản phí thuê đƣợc quy định cụ thể trong hợp đồng thuê. - Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD (bên bảo lãnh) với bên có quyền thụ hƣởng (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay khách hàng (bên đƣợc bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Khách hàng 8 z phải nhận nợ và hoàn trả ngay cho bên bảo lãnh toàn bộ số tiền đã đƣợc TCTD trả thay. NHTM đƣợc bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh NH khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với ngƣời nhận bảo lãnh. Mặc dù không phải xuất tiền ra nhƣng NH đã cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi. Bảo lãnh đƣợc ghi vào tài sản ngoại bảng, đó là giá trị mà NH cam kết trả thay khách hàng của mình.
Phần bảo lãnh NH phải thực hiện chi trả đƣợc ghi vào tài sản nội bảng (mục cho vay bắt buộc, tính vào nợ quá hạn). Phân chia theo đảm bảo: - Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: Về nguyên tắc, mọi khoản tín dụng của NH đều có đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố. Cam kết đảm bảo là cam kết của ngƣời nhận tín dụng về việc dùng tài sản của mình hoặc của ngƣời thứ ba để trả nợ cho NH. - Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: việc cấp tín dụng cũng có thể không cần có tài sản cầm cố, thế chấp.