Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Nghiên cứu pháp luật về mua bán nợ xấu từ cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam" (tên đề tài trong văn bản nhận xét ghi nhận: "Pháp luật về mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam") được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Hoàng Văn Thành, chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số: 938 01 07) tại Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Ánh Vân và TS. Lê Đình Vinh, bảo vệ năm 2019.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, nợ xấu phát sinh từ hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD) là hệ quả tất yếu. Tại Việt Nam, sự hình thành các công ty mua bán nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng thương mại (AMC) từ những năm 1999-2000 (như AMC-Vietcombank, AMC-Vietinbank) bước đầu tạo cơ chế xử lý nợ nội bộ nhưng mang tính rời rạc, thiếu liên kết hệ thống. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã làm gia tăng quy mô nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Trước tình hình đó, việc thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) theo Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 đánh dấu bước chuyển biến trong xử lý nợ xấu tập trung. Từ tháng 10/2013 đến ngày 31/12/2017, VAMC đã mua 26.231 khoản nợ xấu của 16.269 khách hàng tại các TCTD với tổng dư nợ gốc nội bảng đạt 307.932 tỷ đồng, giá mua nợ là 277.755 tỷ đồng, góp phần đưa tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ngân hàng giảm từ 3,61% (năm 2013) xuống 2,18% (cuối năm 2017).
Tuy nhiên, thực tiễn thực thi bộc lộ nhiều khoảng trống pháp lý:
- Quy mô nợ xấu toàn hệ thống TCTD giai đoạn 2016–2017 ước tính khoảng 566.000 đến 600.000 tỷ đồng, trong khi quy mô xử lý nợ của Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam (DATC) năm 2016 đạt hơn 7.132 tỷ đồng và năm 2017 đạt gần 7.000 tỷ đồng, cho thấy sự tham gia của DATC còn rất hạn chế.
- Cơ chế mua bán nợ xấu chủ yếu thực hiện thông qua công cụ trái phiếu đặc biệt theo Nghị định số 34/2015/NĐ-CP còn bộc lộ bất cập đối với TCTD nắm giữ, thiếu cơ chế bảo lãnh của Chính phủ hoặc Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
- Nghị quyết số 42/2017/QH14 cho phép VAMC mua nợ xấu theo giá trị thị trường và thanh toán bằng tiền, nhưng cơ chế huy động vốn cho VAMC chưa được quy định đồng bộ.
- Quy định về vốn pháp định và tiêu chuẩn người quản lý đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ tại Nghị định số 69/2016/NĐ-CP tạo rào cản gia nhập thị trường đối với các chủ thể tư nhân.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về mua bán nợ xấu và pháp luật về mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các TCTD; đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam; chỉ ra nguyên nhân của hạn chế, bất cập; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường mua bán nợ xấu.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm:
- Phân tích làm rõ các tiêu chí phân loại nợ xấu, vai trò của các chủ thể tham gia mua bán nợ xấu, giá mua bán nợ xấu, phương thức mua bán nợ xấu và công cụ thanh toán trong quan hệ mua bán nợ xấu.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các TCTD ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng; chỉ ra thành tựu, hạn chế, khó khăn và nguyên nhân trong quá trình áp dụng pháp luật.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các TCTD ở Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học pháp lý về mua bán nợ xấu; các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh hoạt động mua bán nợ xấu từ cho vay của TCTD; thực tiễn thi hành pháp luật; và kinh nghiệm lập pháp, áp dụng pháp luật của một số quốc gia trong khu vực (Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia) và Liên minh Châu Âu (EU).
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung vào các khoản nợ xấu phát sinh từ hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng (thuộc các nhóm 3, 4, 5). Luận án giới hạn phạm vi ở quan hệ mua bán nợ xấu trên thị trường sơ cấp giữa TCTD bán nợ với các tổ chức, cá nhân mua nợ. Trọng tâm nghiên cứu giải quyết 5 nhóm quy định: (1) đối tượng mua bán, (2) chủ thể mua bán, (3) phương pháp xác định giá mua bán, (4) phương thức mua bán, và (5) công cụ thanh toán. Luận án tiếp cận quan hệ này dưới góc độ pháp luật ngân hàng (bao gồm yếu tố luật công và luật tư), không tiếp cận đơn thuần dưới góc độ chế định hợp đồng dân sự.
- Về không gian: Pháp luật thực định tại Việt Nam và khảo cứu kinh nghiệm quốc tế tại Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia, EU.
- Về thời gian: Tập trung vào các quy định pháp luật hiện hành và số liệu thực tiễn giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các công trình nghiên cứu trong nước
Luận án đã tổng thuật và phân tích các công trình nghiên cứu trong nước theo 5 nhóm nội dung:
- Về nợ xấu và phân loại nợ: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hoài Phương (2012) tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân về Quản trị nợ xấu tại ngân hàng thương mại Việt Nam đã vận dụng nguyên tắc Basel II để phân tích thực trạng nợ xấu tại 5 NHTM lớn (Agribank, Vietinbank, BIDV, Vietcombank, ACB) giai đoạn 2005–2011; bài viết của Nguyễn Thị Thanh Tú và Nguyễn Hồng Nhung (2013) trên Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ so sánh phương pháp định tính và định lượng trong phân loại nợ của Basel II, ECB, IMF với Việt Nam; bài viết của Lê Thanh Tùng (2013) trên Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ nghiên cứu kinh nghiệm xử lý nợ của TAMC (Thái Lan), IBRA (Indonesia), Danaharta (Malaysia), KAMCO (Hàn Quốc) và 4 AMC của Trung Quốc.
- Về chủ thể tham gia: Đào Duy Huân (2013) trên Tạp chí Phát triển và Hội nhập phân tích sự tồn tại của DATC và các AMC trực thuộc NHTM; Đào Thị Hồ Hương (2013) trên Tạp chí Ngân hàng đề xuất mô hình công ty mua bán nợ quốc gia và sử dụng công cụ giấy tờ có giá; Cảnh Chí Hoàng (2017) trên Tạp chí Tài chính phân tích vai trò trung tâm của VAMC và sự cần thiết phối hợp giữa VAMC, DATC và các AMC.
- Về phương pháp xác định giá: Nguyễn Văn Thọ và Nguyễn Thị Hương Thanh (2014) trên Tạp chí Ngân hàng chỉ ra sự chênh lệch giá do DATC mua nợ dao động từ 35–40% giá trị nợ gốc dựa trên khả năng thu hồi thực tế, trong khi NHTMNN có xu hướng bán theo giá trị ghi sổ; Hoàng Xuân Hòa và Trần Kim Anh (2013) trên Tạp chí Ngân hàng phân tích việc định giá theo thị trường để hạn chế rủi ro đạo đức khi tài sản bảo đảm là bất động sản bị định giá quá cao.
- Về phương thức mua bán: Các công trình của Hoàng Thị Duyên (Tạp chí Tài chính số 638), Tô Ngọc Hưng (Tạp chí Ngân hàng), Đoàn Thị Hồng Nga (Tạp chí Tài chính), Khúc Thị Phương Nhung (2018, Tạp chí Khoa học Kiểm sát), Trần Thị Kim Oanh (Tạp chí Kinh tế và Dự báo) làm rõ hai phương thức chủ yếu: thỏa thuận và đấu giá.
- Về công cụ thanh toán: Nguyễn Minh Hằng và Hoàng Văn Thành (2018) trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật làm rõ cơ chế phát hành trái phiếu đặc biệt của VAMC để mua nợ xấu và các hạn chế liên quan.
Các công trình nghiên cứu ngoài nước
- Báo cáo số 115 (2002) của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) do Guonan Ma và Ben S.C. Fung thực hiện về các công ty quản lý tài sản của Trung Quốc (Huarong, Cinda, Orient, Great Wall), phân tích cơ cấu nguồn vốn gồm 3% từ Bộ Tài chính, 14% từ Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) và 83% từ phát hành trái phiếu, đồng thời chỉ ra bất cập trong cơ chế quản lý đa cơ quan.
- Luận văn thạc sĩ luật học của Li Hengfeng (2013) tại Đại học Bắc Kinh nghiên cứu về phân loại nợ xấu và mô hình 4 AMC Trung Quốc, lý giải việc mua nợ theo giá trị sổ sách trong giai đoạn 1999–2003 nhằm hỗ trợ hệ thống ngân hàng quốc doanh.
- Báo cáo số 398 (2012) của Masahiro Inoguchi (Đại học Kyoto Sangyo, Nhật Bản) khảo sát hoạt động của Danaharta (Malaysia) và TAMC (Thái Lan), làm rõ cơ chế định giá theo thị trường qua kiểm toán độc lập và tỷ lệ huy động vốn qua trái phiếu (TAMC: 90%, Danaharta: 60%).
- Nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) do Shekhar Aiyar cùng các cộng sự thực hiện (2015) về chiến lược giải quyết nợ xấu ở Châu Âu, phân tích bài học từ SAREB (Tây Ban Nha), Hungary, Ireland, Latvia, Slovenia.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Mặc dù các công trình trước đã nghiên cứu về nợ xấu và các mô hình AMC, đa số tiếp cận dưới góc độ kinh tế học hoặc nghiên cứu các biện pháp hành chính riêng lẻ. Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu cần giải quyết là: xây dựng hệ thống lý luận khoa học pháp lý hoàn chỉnh về mua bán nợ xấu dưới góc độ luật ngân hàng; phân tích chuyên sâu 5 nhóm quy định cốt lõi (đối tượng, chủ thể, phương pháp xác định giá, phương thức mua bán, công cụ thanh toán); và luận giải cơ sở pháp lý để chuyển đổi cơ chế mua bán nợ từ giá trị sổ sách bằng trái phiếu đặc biệt sang giá trị thị trường thanh toán bằng tiền.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Hệ thống lý luận: Dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước về tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu.
- Lý thuyết chuyên ngành: Sử dụng lý thuyết rủi ro tín dụng ngân hàng, lý thuyết can thiệp của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, lý thuyết hợp đồng và các chuẩn mực quốc tế về ngân hàng của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
- Khái niệm nợ xấu được thống nhất sử dụng: Nợ xấu được nhận diện thông qua hai dấu hiệu pháp lý: (1) khoản nợ quá hạn trả nợ gốc và lãi trên 90 ngày, hoặc (2) khách hàng bị TCTD đánh giá không có khả năng trả nợ đúng hạn (tương ứng nợ nhóm 3, 4, 5).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích văn bản quy phạm pháp luật và thống kê mô tả:
- Phương pháp phân tích: Nghiên cứu bản chất pháp lý của quan hệ mua bán nợ xấu, ưu điểm và hạn chế của các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay.
- Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý và phân tích số liệu thực tiễn về kết quả mua bán nợ xấu của VAMC, DATC và các TCTD trong giai đoạn 2013–2018.
- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi trực tiếp với các nhà khoa học và chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật và tiền tệ - ngân hàng, bao gồm: GS.TS. Nguyễn Văn Tiến, TS. Nguyễn Thái Hà, TS. Bùi Hữu Toàn, TS. Vũ Văn Cương.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh, đối chiếu quy định pháp luật và mô hình xử lý nợ xấu của Việt Nam với kinh nghiệm của Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Tây Ban Nha để rút ra bài học cho việc hoàn thiện pháp luật trong nước.
Nguồn dữ liệu và tư liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam: Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Đất đai 2013, Nghị quyết số 42/2017/QH14, Nghị định số 53/2013/NĐ-CP, Nghị định số 34/2015/NĐ-CP, Nghị định số 69/2016/NĐ-CP, Thông tư số 02/2013/TT-NHNN, Thông tư số 09/2014/TT-NHNN, Thông tư số 19/2013/TT-NHNN, Thông tư số 14/2015/TT-NHNN, Thông tư số 09/2015/TT-NHNN.
- Báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động định kỳ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, VAMC, DATC.
- Báo cáo nghiên cứu của BIS, IMF, Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), Ủy ban Basel.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ XẤU TỪ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến 5 nội dung cốt lõi của hoạt động mua bán nợ xấu: đối tượng nợ xấu, chủ thể tham gia, phương pháp xác định giá, phương thức giao dịch và công cụ thanh toán.
Tác giả đánh giá rằng các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tập trung vào phân tích nguyên nhân kinh tế của nợ xấu hoặc đánh giá vai trò ban đầu của VAMC, nhưng chưa làm rõ bản chất pháp lý của mối quan hệ mua bán nợ sơ cấp dưới góc độ luật ngân hàng, còn nhầm lẫn giữa khái niệm "nợ xấu" và "nợ khó đòi", và chưa luận giải đầy đủ vai trò của các công ty mua bán nợ tư nhân trong việc hình thành thị trường mua bán nợ tập trung. Trên cơ sở tổng quan, tác giả xác định câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết cho toàn bộ luận án.
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN NỢ XẤU VÀ PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ XẤU TỪ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Chương 2 xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về mua bán nợ xấu và pháp luật điều chỉnh quan hệ này:
- Khái niệm và đặc điểm: Luận án làm rõ khái niệm nợ xấu từ hoạt động cho vay, phân biệt giữa nợ xấu (Bad Debt) và khoản cho vay không hiệu quả (Non-performing loans - NPL). Mua bán nợ xấu từ cho vay được xác định là giao dịch chuyển nhượng quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng giữa TCTD (bên bán) với bên mua nợ kèm theo việc chuyển giao tài sản bảo đảm và các quyền, nghĩa vụ liên quan.
- Vai trò: Hoạt động mua bán nợ xấu giúp làm sạch bảng cân đối kế toán của TCTD, khơi thông dòng vốn tín dụng, giảm áp lực dự phòng rủi ro và hỗ trợ tái cơ cấu doanh nghiệp vay vốn.
- Pháp luật về mua bán nợ xấu: Phân tích khái niệm, vai trò và các yếu tố chi phối (chính sách kinh tế vĩ mô, tình trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng, năng lực tài chính của các chủ thể mua nợ, mức độ phát triển của thị trường tài chính). Nội dung cơ bản của pháp luật về mua bán nợ xấu gồm 5 chế định: quy định về đối tượng mua bán; quy định về chủ thể mua bán; quy định về phương pháp xác định giá; quy định về phương thức mua bán; và quy định về công cụ thanh toán.
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ XẤU TỪ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM
Chương 3 phân tích chi tiết thực trạng các quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam thông qua 5 nhóm vấn đề:
1. Quy định về đối tượng mua bán và điều kiện chuyển giao
Quy định về phân loại nợ xấu tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN và Thông tư 09/2014/TT-NHNN bước đầu tiệm cận thông lệ quốc tế nhưng tiêu chí định tính còn phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của TCTD. Về chuyển giao quyền và nghĩa vụ, việc xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất gặp vướng mắc do quy định tại Điều 174 Luật Đất đai 2013 hạn chế quyền nhận thế chấp và xử lý quyền sử dụng đất đối với tổ chức không phải là TCTD.
2. Quy định về chủ thể mua bán nợ xấu
- Bên bán nợ (TCTD): Quyền tự do định đoạt bán nợ còn bị giới hạn bởi các mệnh lệnh hành chính hoặc áp lực tái cơ cấu bắt buộc.
- Bên mua nợ:
- VAMC: Là công cụ đặc biệt thuộc sở hữu Nhà nước, nhưng vốn điều lệ thực có thấp (lộ trình tăng lên 10.000 tỷ đồng vào năm 2020), phụ thuộc vào nguồn vốn ngân sách nhà nước, chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
- DATC: Vốn điều lệ hạn chế (khoảng 6.000 tỷ đồng), phạm vi xử lý chủ yếu bó hẹp ở khối doanh nghiệp nhà nước và TCTD có vốn nhà nước chi phối.
- AMC của các NHTM: Quy mô vốn nhỏ, trực thuộc 100% vốn ngân hàng mẹ, chủ yếu xử lý nợ nội bộ của ngân hàng mẹ mà không mua được nợ của TCTD khác.
- Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ và nhà đầu tư nước ngoài: Quy định điều kiện vốn pháp định tại Nghị định 69/2016/NĐ-CP và thiếu khung pháp lý rõ ràng khiến khối tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài chỉ dừng lại ở mức độ thăm dò.
3. Quy định về phương pháp xác định giá mua bán nợ xấu
Tồn tại hai phương pháp: theo giá trị sổ sách và theo giá trị thị trường. VAMC áp dụng chủ yếu phương pháp mua theo giá trị sổ sách bằng trái phiếu đặc biệt trong giai đoạn đầu. Luận án phân tích phương pháp này không phản ánh đúng giá trị thực tế của khoản nợ tại thời điểm bán, dồn toàn bộ rủi ro về phía VAMC và không tạo lập được thị trường mua bán nợ thực chất.
4. Quy định về phương thức mua bán nợ xấu
Pháp luật quy định hai phương thức chính: thỏa thuận và đấu giá. Phương thức thỏa thuận chiếm ưu thế nhưng thiếu quy trình chuẩn, thủ tục giữa các TCTD chưa thống nhất. Hợp đồng mua bán nợ dưới dạng văn bản điện tử chưa được áp dụng trên thực tế; quy định công chứng, chứng thực còn thiếu tính đồng bộ.
5. Quy định về công cụ thanh toán
Bao gồm thanh toán bằng tiền và thanh toán bằng phát hành giấy tờ có giá (trái phiếu đặc biệt). Trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành có thời hạn 5 năm (hoặc 10 năm), lãi suất 0%, TCTD phải trích lập dự phòng rủi ro 20%/năm nhưng được dùng để vay tái cấp vốn tại NHNN. Tuy nhiên, công cụ này không tạo ra dòng tiền tươi cho TCTD, thiếu cơ chế bảo lãnh thanh toán của Chính phủ hoặc NHNN.
Bảng tổng hợp dữ liệu thực trạng mua bán nợ xấu trong luận án:
| Chỉ tiêu / Chủ thể |
Số liệu ghi nhận |
Giai đoạn / Thời điểm |
Văn bản pháp lý liên quan |
| Số khoản nợ VAMC đã mua |
26.231 khoản nợ |
10/2013 – 31/12/2017 |
Nghị định 53/2013/NĐ-CP |
| Số lượng khách hàng vay nợ được VAMC mua |
16.269 khách hàng |
10/2013 – 31/12/2017 |
Nghị định 53/2013/NĐ-CP |
| Tổng dư nợ gốc nội bảng VAMC đã mua |
307.932 tỷ đồng |
10/2013 – 31/12/2017 |
Báo cáo VAMC |
| Tổng giá mua nợ của VAMC |
277.755 tỷ đồng |
10/2013 – 31/12/2017 |
Báo cáo VAMC |
| Tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng |
Giảm từ 3,61% xuống 2,18% |
Năm 2013 so với cuối năm 2017 |
Báo cáo NHNN |
| Nợ xấu DATC đã mua và xử lý |
> 7.132 tỷ đồng |
Năm 2016 |
Báo cáo DATC |
| Nợ xấu DATC đã mua và xử lý |
Gần 7.000 tỷ đồng |
Năm 2017 |
Báo cáo DATC |
| Quy mô nợ xấu toàn hệ thống TCTD |
Khoảng 600.000 tỷ đồng |
Năm 2016 |
Thống kê hệ thống TCTD |
| Quy mô nợ xấu toàn hệ thống TCTD |
Khoảng 566.000 tỷ đồng |
Năm 2017 |
Thống kê hệ thống TCTD |
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ XẤU TỪ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chương 4 xác định các yêu cầu cơ bản và đề xuất 9 nhóm giải pháp cụ thể:
1. Các yêu cầu cơ bản hoàn thiện pháp luật
- Đảm bảo sự phù hợp giữa quy định pháp luật về mua bán nợ xấu với chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước.
- Hoàn thiện pháp luật phù hợp với định hướng phát triển thị trường mua bán nợ tập trung.
- Đa dạng hóa nguồn vốn và chủ thể tham gia vào thị trường mua bán nợ xấu.
- Đảm bảo tính độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ quốc gia của Ngân hàng Nhà nước.
- Đáp ứng các yêu cầu hội nhập quốc tế và cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng.
2. Các nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cụ thể
- Sửa đổi quy định về khái niệm nợ xấu: Hoàn thiện tiêu chí xác định nợ xấu tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 02/2014/TT-NHNN và Thông tư 09/2014/TT-NHNN) nhằm bảo đảm thống nhất với chuẩn mực quốc tế về thời hạn quá hạn trên 90 ngày và tiêu chí định tính về khả năng trả nợ.
- Sửa đổi quy định về quyền thu giữ tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất: Sửa đổi Điều 174 Luật Đất đai 2013 nhằm cho phép các chủ thể mua nợ không phải là TCTD (như VAMC, DATC, tổ chức kinh doanh mua bán nợ) được nhận thế chấp, thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
- Bổ sung điều kiện nguồn vốn mua nợ của TCTD: Bổ sung điều kiện về nguồn vốn mà TCTD được phép sử dụng để mua nợ xấu của các TCTD khác tại khoản 3 Điều 5 Thông tư số 09/2015/TT-NHNN.
- Nâng cao khả năng huy động vốn của VAMC: Sửa đổi khoản 2 Điều 3 Nghị định số 53/2013/NĐ-CP để tạo cơ chế linh hoạt cho VAMC trong việc vay vốn thương mại, phát hành trái phiếu trên thị trường vốn trong và ngoài nước.
- Bãi bỏ rào cản gia nhập thị trường đối với doanh nghiệp mua bán nợ: Bãi bỏ quy định về mức vốn pháp định và tiêu chuẩn, điều kiện người quản lý doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ tại Nghị định số 69/2016/NĐ-CP nhằm khuyến khích khu vực tư nhân tham gia.
- Bãi bỏ cơ chế VAMC mua nợ theo giá trị sổ sách: Bãi bỏ quy định cho phép VAMC mua nợ xấu của TCTD theo giá trị sổ sách tại Nghị định số 34/2015/NĐ-CP, chuyển hoàn toàn sang cơ chế mua nợ theo giá trị thị trường.
- Sửa đổi các quy định hạn chế của công cụ trái phiếu đặc biệt: Sửa đổi Điều 21 Nghị định số 34/2015/NĐ-CP và khoản 9 Điều 1 Thông tư số 14/2015/TT-NHNN nhằm tăng tính thanh khoản và quyền năng cho TCTD sở hữu trái phiếu đặc biệt.
- Bổ sung quy định bảo lãnh đối với trái phiếu VAMC: Quy định cơ chế bảo lãnh của Chính phủ hoặc Ngân hàng Nhà nước đối với trái phiếu và trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành để tăng độ an toàn và sức hấp dẫn trên thị trường vốn.
- Mở rộng các trường hợp thanh toán bằng tiền của VAMC: Bổ sung các quy định cụ thể cho phép VAMC được thanh toán bằng tiền khi mua nợ xấu của TCTD trên cơ sở nguồn vốn huy động được từ thị trường.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Xây dựng hệ thống lý luận khoa học pháp lý tương đối toàn diện về quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng cho vay của TCTD dưới góc độ luật ngân hàng, kết hợp giữa điều chỉnh hành chính công và quan hệ hợp đồng kinh tế.
- Làm rõ sự khác biệt giữa khái niệm nợ xấu (Bad Debt), nợ khó đòi và các khoản cho vay không hiệu quả (NPL), chỉ ra các tiêu chí định tính và định lượng trong pháp luật Việt Nam tiệm cận các nguyên tắc của Basel II và IMF.
- Luận giải vị trí, vai trò, điểm mạnh và hạn chế của từng nhóm chủ thể mua nợ trên thị trường sơ cấp: công ty mua bán nợ của Nhà nước (VAMC, DATC), công ty mua bán nợ trực thuộc NHTM (AMC), doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ và các nhà đầu tư trong, ngoài nước.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp lập pháp
- Chứng minh tính tất yếu của việc chuyển đổi phương thức mua bán nợ xấu từ giá trị sổ sách sang giá trị thị trường dựa trên cơ chế thẩm định giá độc lập nhằm loại bỏ rủi ro đạo đức và phản ánh đúng giá trị tài sản.
- Chứng minh tính hạn chế của công cụ trái phiếu đặc biệt và yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi sang công cụ thanh toán bằng tiền trong giao dịch giữa VAMC và TCTD.
- Đề xuất 9 nhóm giải pháp lập pháp cụ thể, kiến nghị sửa đổi trực tiếp các văn bản quy phạm pháp luật gồm: Luật Đất đai 2013, Nghị định số 53/2013/NĐ-CP, Nghị định số 34/2015/NĐ-CP, Nghị định số 69/2016/NĐ-CP, Thông tư số 02/2013/TT-NHNN, Thông tư số 14/2015/TT-NHNN, và Thông tư số 09/2015/TT-NHNN.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Phạm vi nghiệp vụ cấp tín dụng: Luận án tập trung chủ yếu vào nợ xấu phát sinh từ nghiệp vụ cho vay do nghiệp vụ này chiếm tỷ trọng dư nợ lớn nhất, chưa đi sâu vào các khoản nợ xấu phát sinh từ các hình thức cấp tín dụng khác như bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán hay chiết khấu giấy tờ có giá.
- Phân khúc thị trường: Phạm vi khảo sát tập trung ở thị trường mua bán nợ sơ cấp (giữa bên bán là TCTD và bên mua nợ), chưa nghiên cứu sâu các giao dịch mua bán lại nợ xấu trên thị trường thứ cấp.
- Mốc thời gian dữ liệu thực tiễn: Số liệu thực tế trong luận án chủ yếu phản ánh giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017 và cập nhật một phần năm 2018; do đó, các tác động dài hạn của Nghị quyết số 42/2017/QH14 chưa được đánh giá đầy đủ qua nhiều chu kỳ kinh tế tiếp theo.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng nghiên cứu khung pháp luật điều chỉnh thị trường mua bán nợ thứ cấp và hoạt động chứng khoán hóa các khoản nợ xấu (securitization).
- Nghiên cứu cơ chế pháp lý về xử lý nợ xấu phát sinh từ các dịch vụ tài chính phi truyền thống và công nghệ tài chính (Fintech).
- Đánh giá toàn diện kết quả thực thi Nghị quyết số 42/2017/QH14 sau khi hết thời hạn thí điểm nhằm luật hóa các quy định xử lý nợ xấu vào Luật Các tổ chức tín dụng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo khoa học hữu ích cho các nhóm đối tượng và mục đích cụ thể:
- Cơ quan xây dựng chính sách và quản lý nhà nước: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính có thể tham khảo các lập luận và đề xuất sửa đổi tại Chương 4 để hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xử lý nợ xấu, quản trị rủi ro tín dụng và tái cấu trúc hệ thống TCTD.
- Các tổ chức thực thi và định chế tài chính: VAMC, DATC, các AMC và các ngân hàng thương mại có thể tham khảo phân tích tại Chương 3 về quy trình định giá khoản nợ, lựa chọn phương thức mua bán (thỏa thuận, đấu giá) và quản lý rủi ro khi sử dụng công cụ thanh toán trái phiếu đặc biệt.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng có thể sử dụng Chương 1 và Chương 2 làm tài liệu tham khảo cho các học phần về Pháp luật ngân hàng và Thị trường tài chính.
Câu hỏi thường gặp
1. Nợ xấu từ hoạt động cho vay được nhận diện dựa trên những dấu hiệu pháp lý nào trong luận án?
Theo luận án, nợ xấu từ hoạt động cho vay của TCTD được nhận diện thông qua hai dấu hiệu pháp lý cơ bản:
- Dấu hiệu định lượng: Khoản nợ bị quá hạn trả nợ gốc và lãi trên 90 ngày.
- Dấu hiệu định tính: Khách hàng vay vốn bị TCTD đánh giá là không có khả năng trả nợ đúng hạn, tiềm ẩn rủi ro không thu hồi được vốn (tương ứng với nợ nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 theo quy định phân loại nợ của NHNN).
2. Sự khác biệt căn bản giữa mô hình xử lý nợ của VAMC và DATC là gì?
- VAMC: Được thành lập năm 2013 theo Nghị định 53/2013/NĐ-CP, trực thuộc quản lý của Ngân hàng Nhà nước, có chức năng chuyên trách mua và xử lý nợ xấu của toàn bộ hệ thống TCTD tại Việt Nam, chủ yếu thông qua việc phát hành trái phiếu đặc biệt để mua nợ theo giá trị sổ sách và mua nợ theo giá thị trường.
- DATC: Là doanh nghiệp trực thuộc Bộ Tài chính, phạm vi hoạt động tập trung vào mua và xử lý các khoản nợ tồn đọng gắn với quá trình sắp xếp, cổ phần hóa và chuyển đổi sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước, chỉ mua nợ của các NHTM nhà nước hoặc NHTM cổ phần do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối.
3. Tại sao luận án kiến nghị bãi bỏ việc VAMC mua nợ xấu theo giá trị sổ sách?
Phương pháp mua nợ theo giá trị sổ sách (thực hiện bằng trái phiếu đặc biệt) không phản ánh đúng giá trị thực tế của khoản nợ tại thời điểm mua bán và không tính toán đầy đủ mức độ rủi ro cũng như khả năng thu hồi nợ thực tế. Khi VAMC mua theo mệnh giá sổ sách, toàn bộ rủi ro mất vốn chuyển giao sang công ty nhà nước, không tạo động lực để TCTD tự xử lý nợ và cản trở sự hình thành thị trường mua bán nợ vận hành theo nguyên tắc kinh tế thị trường.
4. Luận án đề xuất giải pháp gì đối với quy định về tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất trong giao dịch mua bán nợ?
Luận án kiến nghị sửa đổi Điều 174 Luật Đất đai 2013 nhằm mở rộng quyền nhận thế chấp, chuyển nhượng và xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cho các tổ chức mua bán nợ (như VAMC, DATC, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ) chứ không chỉ giới hạn riêng cho các TCTD như quy định hiện hành.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Hoàng Văn Thành đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng pháp luật về mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các TCTD tại Việt Nam giai đoạn 2013–2018. Công trình đã làm rõ những vướng mắc pháp lý về đối tượng, chủ thể, định giá, phương thức giao dịch và công cụ thanh toán trong xử lý nợ xấu. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất 9 nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật cụ thể, hướng tới việc chuyển đổi cơ chế mua bán nợ theo giá thị trường, thanh toán bằng tiền và phát triển thị trường mua bán nợ tập trung tại Việt Nam.