Chương 1: Cơ sở lý luận về nợ xấu và xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Chương 2: Thực trạng hoạt động xử lý nợ xấu tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển n ng thôn Việt Nam chi nhánh huyện Đức Hòa - Long An Chương 3: Các giải pháp nhằm xử lý nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Đức Hòa - Long An. Luan van - 10 - CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. Cơ sở lý luận về nợ xấu Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu.
Quan điểm về nợ xấu khác nhau ở các quốc gia và trong một nền kinh tế dưới góc nhìn của các chủ thể khác nhau thì quan điểm về nợ xấu cũng có sự khác biệt. Khái niệm về nợ xấu và thành phần của nợ xấu 1. Quan điểm của ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB)[1] * Xét theo khía cạnh Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi như: (i) Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ. (ii) Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ.
(iii) Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ. (iv) Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua l và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. * Xét theo khía cạnh Nợ xấu là những khoản cho vay có thể không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản đưa ra để thế chấp không đủ để trả nợ. Điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng không thể thu hồi đầy đủ món nợ vì người mắc nợ rất khó kiếm được lợi nhuận từ công việc kinh doanh hoặc người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để thanh toán hoặc hoàn cảnh chỉ rõ rằng phần lớn tiền nợ sẽ không thể thu hồi được.
Những khoản nợ loại này gồm có: (i) Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ nợ. (ii) Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nợ nhưng không đền b được nợ trong thời gian thoả thuận [1] Truy cập tại http://www.int/home/html/index.html Luan van - 11 - (iii) Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp ở Ngân hàng không được chấp thuận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ không thể trả nợ Ngân hàng đầy đủ. (iv) Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ. Quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Định nghĩa về nợ xấu đã được IMF (2004) đưa ra như sau: Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguy n nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ" 1.
Quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) Theo như quyết định số 493/2005 của thống đốc NHNN ngày 22/4/2005 về việc phân loại nợ, trích lập và sử d ng dự phòng để xử lý rủi ro tín d ng trong hoạt động ngân hàng của t chức tín d ng thì nợ xấu được định nghĩa như sau: Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn). Như vậy, nợ xấu theo định nghĩa của Việt Nam cũng được xác định dựa theo 2 yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày hoặc (ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại Dựa tr n các khái niệm tr n về nợ xấu, tác giả cho rằng Nợ xấu (NPL) được xem là các khoản cho vay đã quá hạn trả nợ gốc và lãi 90 ngày trở lên và có dấu hiệu nghi ngờ về khả năng trả nợ của người đi vay. Thành phần của nợ xấu Việc phân loại nợ không có tiêu chuẩn kế toán thống nhất và thành phần nợ xấu không giống nhau ở các quốc gia. Việc thường xuyên xem xét và phân loại nợ giúp các ngân hàng có thể kiểm soát chất lượng danh m c cho vay và có biện pháp ứng phó kịp thời với những vấn đề phát sinh trong chất lượng tín d ng.
Theo hệ thống phân loại nợ của Mỹ và Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) thì nợ xấu bao gồm 3 nhóm: nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ mất vốn. Theo nghiên cứu của nhóm Ngân hàng Châu Âu về nợ xấu ở Trung, Đông và Đông Nam Châu Âu năm 2012 thì thành phần nợ xấu của các quốc gia không hoàn Luan van - 12 - toàn giống nhau. Các quốc gia có cách phân chia các thành phần nợ xấu có khác biệt như Bulgaria, Kosovo gồm 2 thành phần là nợ không thể hoàn trả và nợ mất vốn, còn đa số các quốc gia khác như Bosnia, Mongtenegro bao gồm 3 thành phần là nợ dưới chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ mất vốn. Hai quốc gia Estonia, Hungari không có phân loại nợ rõ ràng chỉ xác định thành phần nợ xấu là các khoản nợ không thể hoàn trả vượt quá 90 ngày.
Tuy nhiên, nếu xét theo định lượng thì có sự tương đồng giữa các quốc gia – nợ xấu là các khoản nợ vượt quá 90 ngày. Thành phần nợ xấu tại một số quốc gia Quốc gia/ T chức Phân loại nợ Thành phần Nợ xấu tài chính 5 nhóm: Nợ ti u chuẩn, nợ chú ý, Ngân hàng thanh Nợ dưới ti u chuẩn, nợ nghi ngờ nợ dưới ti u chuẩn, nợ nghi ngờ và toán quốc tế và nợ mất vốn nợ mất vốn 5 nhóm: Nợ ti u chuẩn, nợ chú ý Nợ dưới ti u chuẩn, nợ nghi ngờ Mỹ đặc biệt, nợ dưới ti u chuẩn, nợ và nợ mất vốn nghi ngờ và nợ mất vốn Các khoản nợ không thể thu hồi 5 nhóm: Nợ ti u chuẩn, nợ chú ý quá 90 ngày sau kỳ hạn đáo hạn đặc biệt, nợ dưới ti u chuẩn, nợ Bosnia gốc ban đầu bao gồm: nợ dưới nghi ngờ và nợ mất vốn chuẩn, nợ nghi ngờ, và nợ mất vốn 4 nhóm: Nợ ti u chuẩn, nợ chú ý, Nợ xấu bao gồm nợ không thể Bulgaria nợ không thể hoàn trả và nợ mất hoàn trả và nợ mất vốn. vốn Estonia, Hungari Không xác định rõ Các khoản nợ đã vượt quá 90 ngày 4 nhóm: Nợ ti u chuẩn, nợ chú ý, Kosovo Nợ nghi ngờ và nợ mất vốn nợ nghi ngờ và nợ mất vốn 5 nhóm: Nợ ti u chuẩn, nợ chú ý Nợ dưới chuẩn, nợ nghi ngờ Montenegro đặc biệt, nợ dưới ti u chuẩn, nợ và nợ mất vốn nghi ngờ và nợ mất vốn 5 nhóm: Nợ đủ ti u chuẩn, nợ cần 3 nhóm cuối: Nợ dưới ti u Việt Nam chú ý, nợ dưới ti u chuẩn, nợ nghi chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có ngờ, nợ có khả năng mất vốn. khả năng mất vốn.
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Ngân hàng Châu Âu và NHNN) Luan van - 13 - Với những quan điểm tr n thì theo tác giả, nợ xấu được nhận biết dựa vào ti u chí định lượng và ti u chí định tính. Ti u chí định lượng: Bất kỳ khoản vay nào quá hạn hơn 90 ngày được coi là nợ xấu. Ti u chí định tính: Một khoản vay được xem là nợ xấu nếu như có lý do để nghi ngờ về khả năng trả nợ của khách hàng. Thông tư 02/2013/TT-NHNN ban hành ngày 21/01/2013 về phân loại, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử d ng dự phòng để xử lý rủi ro tín d ng trong hoạt động ngân hàng thì nợ xấu được xác định dựa trên cả yếu tố thời hạn nợ và khả năng thu hồi.
* Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn): Gồm các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Nợ gia hạn nợ lần đầu; Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín d ng. Nợ xấu thuộc các nhóm này được coi là các khoản nợ có khả năng thu hồi cao nhất. Ngân hàng sẽ trích lập một tỷ lệ dự phòng rủi ro cho nợ xấu nhóm này là 20% dư nợ của nhóm. * Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày.
Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu. Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần hai. Nợ xấu thuộc các nhóm này được đánh giá là có khả năng thu hồi thấp hơn so với các khoản nợ nhóm 3. Các khoản nợ này được xếp vào những khoản nợ mà Ngân hàng có nghi ngờ về khả năng trả nợ.
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cho nợ nhóm này là 50% t ng dư nợ của nhóm. * Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày. Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu. Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai.
Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn. Khả năng thu hồi nợ nhóm này là thấp nhất, gần như bằng 0. Do vậy tỉ lệ trích dự phòng rủi ro tương ứng là 100% t ng dư nợ của nhóm. Còn riêng các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý thì được trích lập dự phòng c thể theo khả năng tài chính của các t chức tín d ng.
Phân loại nợ xấu và trích lập dự phòng nợ xấu. Phân loại nợ xấu được hiểu là quá trình các ngân hàng xem xét các danh m c cho vay và đưa khoản vay vào các nhóm khác nhau dựa tr n rủi ro và điểm tương đồng Luan van - 14 - của khoản vay.