Chương 1: Lý luận chung về Ngân hàng thương mại và quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Sài Gòn Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh Nam Sài Gòn 5 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian, giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Có nhiều khái niệm về NHTM như: - NHTM là một Tổ chức tín dụng chuyên kinh doanh tiền tệ và các hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận (Lê Thị Tuyết Hoa và Nguyễn Thị Nhung 2011, trang 79).
- NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng và thực hiện các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng, trong đó chức năng chủ yếu là làm trung gian tín dụng giữa các khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp, công ty, tổ chức kinh tế (Lê Thị Mận và Lý Hoàng Ánh 2013, trang 245). Trên thực tế ở nước ta hiện nay, các NHTM huy động tiền nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức, nhận tiền ủy thác, vay tiền từ các tổ chức … và sử dụng số tiền huy động có được cùng với tiền vay và vốn tự có để đầu tư, cho vay các cá nhân và tổ chức có nhu cầu sử dụng vốn. Bên cạnh đó, NHTM còn thực hiện chức năng trung gian thanh toán, cung cấp các dịch vụ ngân quỹ, tư vấn tài chính, bảo hiểm, … Do đó, có thể khái quát NHTM là ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các dịch vụ tài chính, ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm tín dụng ngân hàng Có thể nói khái niệm tín dụng đã có từ rất lâu và được ra đời cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Có nhiều khái niệm tín dụng phù hợp với những bối cảnh khác nhau. Cụ thể: - Trên thị trường tài chính, tín dụng có thể hiểu là sự dịch chuyển quỹ/vốn từ nơ tạm thời thừa (thặng dư vốn) sang nơi tạm thời thiếu hụt về vốn 6 - Theo nguồn gốc lịch sử, tín dụng được gán với cụm từ “Creditum – credit” được giải thích là lòng tin hay là sự tín nhiệm, xuất phát từ sự trao đổi một lượng giá trị hàng hóa nhất định để nhận về một lời cam kết hoàn trả trong tương lai giữa người sản xuất hàng hóa và người tiêu thụ hàng hóa - Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, khái niệm tín dụng có thể được nhìn nhận một cách đầy đủ ở hai góc độ: (i) Thứ nhất là giữa ngân hàng (người cấp tín dụng) và khách hàng (người nhận tín dụng) (ii) Thứ hai là giữa khách hàng (người gửi tiền gửi có kỳ hạn/tiền tiết kiệm) và ngân hàng nhận tiền gửi. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động ngân hàng, khi đề cập đến hoạt động tín dụng thì góc độ thứ nhất thường được sử dụng phổ biến hơn.
Theo đó, “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” (Bùi Diệu Anh 2013, trang 102). Danh mục cấp tín dụng của ngân hàng thương mại Xuất phát từ các yêu cầu phù hợp với mục đích quản lý, các NHTM thường tập hợp các khoản tín dụng và thiết kế thành danh mục cấp tín dụng dựa trên các tiêu thức khác nhau. Danh mục cấp tín dụng của NHTM là tập hợp tất cả các loại hình cấp tín dụng mà NHTM đã thực hiện trong quá trình hoạt động kinh doanh, được sắp xếp theo các tiêu thức khác nhau, được cơ cấu theo một tỷ lệ nhất định nhằm phục vụ cho mục đích quản lý, điều hành (Bùi Diệu Anh 2012). Có thể phân chia danh mục cấp tín dụng theo các tiêu thức dưới đây: Danh mục theo các hình thức cấp tín dụng Danh mục cấp tín dụng phân theo tiêu chí các hình thức cấp tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng có thể quản lý, đánh giá hoạt động cấp tín dụng theo từng hình thức cấp tín dụng.
Từ đó có thể đưa ra được những nhận định phù hợp về từng hình thức cấp tín dụng, góp phần xây dựng định hướng kinh doanh phù hợp với hoạt động của ngân hàng mình. Danh mục cấp tín dụng phân theo các hình thức cấp tín dụng bao gồm: 7 Cho vay: Theo Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 thì Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác: - “Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán” (Luật các Tổ chức Tín dụng 2010, trang 4). - “Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán” (Luật các Tổ chức Tín dụng 2010, trang 4).
Bảo lãnh ngân hàng: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận” (Luật các Tổ chức Tín dụng 2010, trang 4). Bao thanh toán: “Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ” (Luật các Tổ chức Tín dụng 2010, trang 4). Danh mục theo ngành nghề Danh mục cấp tín dụng theo ngành nghề có ý nghĩa quan trọng đối với các NHTM trong việc lập kế hoạch, triển khai thực hiện kinh doanh cho đến các công tác quản lý, giám sát, điều hành. Từ việc phân tích, đánh giá được các thế 8 mạnh của mình như cơ chế cấp tín dụng, chính sách lãi suất, chính sách sản phẩm, phân khúc khách hàng, thị trường, thị phần, … các NHTM có thể đề ra chiến lược cấp tín dụng hợp lý nhất trong hoạt động kinh doanh của mình.
Các ngành kinh tế nào cần chú trọng, tập trung mở rộng tăng trưởng tín dụng, các ngành nghề cần duy trì và hạn chế cấp tín dụng … được thể hiện thông qua tỷ trọng cấp tín dụng của từng ngành trong tổng thể danh mục cấp tín dụng theo ngành.1: Cơ cấu Danh mục cấp tín dụng theo ngành nghề STT Khoản mục Số tiền Tỷ trọng (%) 1 Cấp tín dụng lĩnh vực nông nghiệp nông thôn 2 Cấp tín dụng lĩnh vực công nghiệp 3 Cấp tín dụng lĩnh vực xây dựng 4 Cấp tín dụng lĩnh vực giao thông vận tải 5 Cấp tín dụng lĩnh vực giáo dục 6 Cấp tín dụng lĩnh vực y tế 7 Cấp tín dụng lĩnh vực tiêu dùng 8 Cấp tín dụng các lĩnh vực khác Tổng cộng 100 Nguồn: Tác giả tự tổng hợp Danh mục theo đối tượng khách hàng Xây dựng danh mục cấp tín dụng theo đối tượng khách hàng thể hiện chiến lược kinh doanh theo phân khúc khách hàng cần hướng đến của NHTM. Mỗi phân khúc khách hàng, đối tượng khách hàng sẽ có những đặc điểm khác nhau, vì vậy để đảm bảo cho việc cấp tín dụng an toàn và hiệu quả, các NHTM cần có sự phân chia tỷ trọng các khoản mục cấp tín dụng theo đối tượng khách hàng một cách hợp lý.2: Cơ cấu Danh mục cấp tín dụng theo đối tƣợng khách hàng STT Khoản mục Số tiền Tỷ trọng (%) Cấp tín dụng đối với Doanh nghiệp sở hữu Nhà 1 nước Cấp tín dụng đối với Công ty TNHH và Công ty 2 Cổ phần Cấp tín dụng đối với Doanh nghiệp tư nhân, Công 3 ty hợp danh Cấp tín dụng đối với Công ty 100% vốn đầu tư 4 nước ngoài 5 Cấp tín dụng đối với Công ty liên doanh 6 Cấp tín dụng đối với Hợp tác xã 7 Cấp tín dụng đối với cá nhân, hộ gia đình Tổng cộng 100 Nguồn: Tác giả tự tổng hợp Danh mục tín dụng theo chất lượng nợ Danh mục cấp tín dụng theo chất lượng nợ có vai trò rất quan trọng, giúp cho nhà quản trị có cái nhìn tổng quan nhất về chất lượng hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng. Thông qua danh mục theo chất lượng nợ, các nhà quản trị có thể đánh giá mức độ rủi ro, chất lượng cũng như hiệu quả của hoạt động cấp tín dụng. Một danh mục cấp tín dụng được xem là an toàn, hiệu quả khi tỷ trọng các khoản cấp tín dụng đều là các khoản tín dụng tốt, khách hàng có khả năng thực hiện đầy đủ và đúng hạn các cam kết của mình hoặc tỷ trọng các khoản tín dụng mà khách hàng không thực hiện đúng các cam kết hoặc mất khả năng thực hiện các cam kết của mình chiếm tỷ trọng rất thấp trong cơ cấu danh mục tín dụng.
Theo quan điểm của ngân hàng Việt Nam hiện nay thì dựa vào tính chất, khả năng thu hồi của các khoản nợ mà các khoản nợ được phân chia thành năm nhóm nợ có tính chất khác nhau, bao gồm Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn), Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý), Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và 10 Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn), trong đó, nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 được hiểu là nợ xấu (Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013). Đây là các khoản nợ được các đánh giá là không có khả năng thu hồi đầy đủ, có khả xảy ra tổn thất một phần hoặc toàn bộ.