chương 1. Chương 3 tác giả thực hiện phân tích thống kê mô tả các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng và phân tích định lượng mô hình nghiên cứu. Chƣơng 4: Kết luận và giải pháp giúp hạn chế nợ xấu TTDQT. 5 Chương 4 trình bày kết luận các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ của khách hàng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố.
Từ kết luận đưa ra các giải pháp nhằm ứng dụng mô hình nghiên cứu vào thực tế giúp hạn chế nợ xấu TTDQT. 6 Chƣơng 1: TỔNG QUAN THẺ TÍN DỤNG VÀ HÀNH VI THANH TOÁN NỢ THẺ TÍN DỤNG QUỐC TẾ 1.1 Tổng quan về thẻ tín dụng quốc tế Thẻ tín dụng là loại thẻ cho phép chủ thẻ được sử dụng trong hạn mức tín dụng được cấp và chủ thẻ phải thanh toán vào ngày đến hạn. Thẻ tín dụng độc đáo ở chỗ nó được dùng với cả hai mục đích, vừa là giao dịch trung gian, vừa là hình thức vay ngắn hạn. Thẻ tín dụng là loại phương tiện thanh toán hiện đại.
Tổ chức phát hành cho phép chủ thẻ rút tiền m t, thanh toán hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ với hạn mức chi tiêu nhất định. Hạn mức chi tiêu này được tổ chức phát hành quy định cho từng chủ thẻ và chủ yếu dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng. Thực chất đây là hình thức cho phép chi tiêu trước trả tiền sau. Vào cuối mỗi kỳ sao kê, chủ thẻ thanh toán với tổ chức phát hành toàn bộ ho c một phần số tiền đã chi tiêu ghi trên sao kê gửi cho chủ thẻ.
Chủ thẻ thanh toán nợ đúng hạn là chủ thẻ đã thanh toán dư nợ vào cuối kỳ số tiền lớn hơn số tiền thanh toán tối thiểu ghi trên sao kê. Thông thường kỳ sao kê là 1 tháng/1 lần. Xét về bản chất kinh tế, thẻ tín dụng là sự cam kết của tổ chức phát hành sẽ trả cho tổ chức thanh toán những khoản tiền mà chủ thẻ đã chi tiêu. Tức là, tại thời điểm khách hàng mua hàng hóa, dịch vụ, rút tiền m t qua máy thanh toán tiền tự động, tổ chức thanh toán sẽ đứng ra tạm ứng thanh toán cho đơn vị cung cấp hàng hoá dịch vụ.
Ngân hàng phát hành sẽ trả tiền cho ngân hàng thanh toán và sau đó ngân hàng phát hành sẽ tiến hành thu hồi khoản tiền này từ khách hàng sau một khoảng thời gian nhất định theo thoả thuận giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ. Do chủ thẻ sử dụng thẻ để chi tiêu thay vì phải mang theo một lượng tiền m t nhất định nên thẻ tín dụng như một phương tiện thanh toán không dùng tiền m t hiện đại hàng đầu. Theo phạm vi sử dụng, thẻ tín dụng được phân thành hai loại là thẻ tín dụng nội địa và thẻ tín dụng quốc tế. Thẻ tín dụng nội địa: là loại thẻ có phạm vi sử dụng và thanh toán trong một quốc gia nhất định.
Tổ chức phát hành và cơ sở chấp nhận thẻ cùng tại một quốc gia. Đồng tiền của thẻ chỉ duy nhất là đồng nội tệ. Thẻ tín 7 dụng quốc tế: là loại thẻ do các ngân hàng phát hành, tổ chức tài chính trong nước và quốc tế phát hành. Thẻ này có thể thanh toán ở các đơn vị chấp nhận thẻ, điểm rút tiền m t trên phạm vi quốc tế.2 Lý thuyết về hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng Hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng là hành vi thanh toán cho tổ chức phát hành các khoản phải trả liên quan đến việc sử dụng thẻ tín dụng để mua sắm ho c rút tiền m t của chủ thẻ tín dụng.
Hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng được chia làm hai loại là hành vi thanh toán đúng hạn và hành vi thanh toán quá hạn. Hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng đúng hạn là hành vi thanh toán lớn hơn số tiền thanh toán tối thiểu trước thời điểm hết hạn thanh toán. Hành vi thanh toán nợ quá hạn là khi hành vi không thanh toán nợ đúng hạn. Hành vi thanh toán nợ quá hạn thường được phân loại thành hai nhóm sau: Phân loại theo kỳ sao kê: Mức độ của hành vi thanh toán nợ quá hạn là bội số của kỳ sao kê.
Các mức độ của hành vi thanh toán nợ quá hạn là: Nợ quá hạn dưới 30 ngày, từ 30 đến 60 ngày, từ 61 đến 90 ngày, từ 91 đến 120 ngày. Phân loại nợ quá hạn theo kỳ sao kê giúp thuận tiện trong việc quản lý nợ và phân loại khách hàng. Phân loại theo nhóm nợ: Trong thực tế kinh doanh thì một ngân hàng sử dụng các mức thanh toán nợ quá hạn theo tiêu chí định lượng đó là: Nợ quá hạn dưới 10 ngày, từ 10 đến 90 ngày, từ 91 đến 180 ngày, từ 181 đến 360 ngày và trên 360 ngày. Thực tế, tại Ngân hàng NHCTCN4 từ 31/12/2014 trở về trước sử dụng cách phân loại hành vi nợ quá hạn theo kỳ sao kê.
Từ ngày 01/01/2015, NHCTVN sử dụng song song hai các phân loại trong các báo cáo về nợ quá hạn thẻ tín dụng. Trong khoa học, tùy theo quan điểm và mục tiêu nghiên cứu mà các tác giả lựa chọn nghiên cứu hành vi thanh toán nợ quá hạn ở các mức độ khác nhau. Nghiên cứu của Zhao và các cộng sự (2009) nghiên cứu về hành vi quá hạn, trong đó khách hàng quá hạn là khách hàng không thanh toán đủ số tối thiểu của kỳ sao 8 kê nghiên cứu. Nghiên cứu của Black và cộng sự (1998) định nghĩa khách hàng bị coi là quá hạn khi đã từng quá hạn một kỳ trong năm.
Noh và cộng sự (2005) lập luận rằng nợ quá hạn là các khoản nợ quá hạn từ 30 ngày trở lên. Trong các nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Phương Thảo (2013), Stanvins (2000) hành vi thanh toán nợ quá hạn là hành vi khách hàng chậm trả nợ trong hai kỳ liên tiếp trở lên trong khoảng thời gian nghiên cứu. Các nghiên cứu các tác giả Sheng (2011), Bellotti và cộng sự (2009), Nyamongo (2009), Dunn (1999) quan tâm đến hành vi của các khách hàng đã phát sinh nợ quá hạn từ ba kỳ sao kê trở lên.2 Một số nghiên cứu về hành vi thanh toán thẻ tín dụng 1.1 Các nghiên cứu trong nƣớc Một nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân được thực hiện bởi tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương (2012). Ứng dụng mô hình hồi quy Logistic với dữ liệu bao gồm 91 khách hàng cá nhân có quan hệ tín dụng tại ngân hàng liên doanh Việt Thái.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các nhân tố dự báo khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân vay tiêu dùng là: Độ tuổi Nghề nghiệp Thâm niên / Kinh nghiệm làm việc Thời gian làm công việc hiện tại Tình trạng sở hữu bất động sản Thu nhập cá nhân Dư nợ hiện tại Tình trạng sử dụng dịch vụ Số dư tiền gửi Theo nghiên cứu, sáu nhân tố không sử dụng để dự báo hành vi trả nợ trễ hạn của khách hàng do mức ý nghĩa cao hơn 5% là: (i) Trình độ học vấn, (ii) Cơ cấu gia đình, (iii) Số người phụ thuộc, (iv) Thu nhập của gia đình, (v) Tình hình trả nợ, (vi) Tình hình chậm trả lãi. Câu hỏi được đ t ra là các khoản vay thông qua hình thức 9 phát hành thẻ tín dụng thì các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng phát sinh nợ xấu có giống với các khách hàng vay tiêu dùng thông thường hay không? Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Phương Thảo (2013) về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng và dựa trên cơ sở mô hình nghiên cứu của Stavins (2000) ứng dụng mô hình hồi quy Logistic, mô hình cụ thể nghiên cứu hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng được xây dựng như sau: ( ) Mô hình có biến phụ thuộc (Y) là hành vi thanh toán nợ thẻ tín dụng. Y = 1 nếu khách hàng có hành vi thanh toán trễ hạn từ 2 kỳ sao kê trở lên, Y = 0 nếu khách hàng có hành vi thanh toán nợ trễ hạn tối đa 1 kỳ sao kê. i là các hệ số hồi quy tương ứng.
là các biến độc lập bao gồm: o Độ tuổi o Trình độ học vấn o Tình trạng hôn nhân o Số người phụ thuộc o Giới tính o Thu nhập o Tình trạng sở hữu bất động sản o Tỷ lệ hạn mức thẻ tín dụng/thu nhập Nghiên cứu đã khám phá ra rằng các nhân tố đồng biến với nợ quá hạn thẻ tín dụng là (i) số người phụ thuộc, và (ii) tỉ lệ hạn mức thẻ tín dụng/thu nhập. Các nhân tố tương quan nghịch biến với nợ quá hạn là (i) trình độ học vấn, (ii) tình trạng hôn nhân, (iii) tình trạng sở hữu nhà ở, và (iv) thu nhập. Hai biến độ tuổi và giới tính không có ý nghĩa trong việc dự đoán hành vi thanh toán nợ của chủ thẻ. Hạn chế của nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương (2012) là việc lựa chọn mô hình tối ưu để dự báo hành vi thanh toán nợ chưa có phương pháp hợp lý khi đồng thời loại bỏ tất các biến có mức ý nghĩa nhỏ hơn 5%.
Nhược điểm này 10 cũng tiếp tục bị l p lại trong nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Phương Thảo (2013). Để khắc phục nhược điểm này, trong nghiên cứu của tác giả, tác giả thực hiện lựa chọn mô hình tối ưu bằng cách loại biến từng biến, sử dụng chỉ tiêu AIC, đưa vào phân tích các tiêu chuẩn định tính.2 Các nghiên cứu quốc tế Nghiên cứu quốc tế nổi bật trong lĩnh vực này là nghiên cứu của tác giả Stavins (2000) về mối quan hệ giữa dư nợ thẻ tín dụng, nợ quá hạn và phá sản cá nhân. Nghiên cứu đã ứng dụng mô hình hồi quy Logistic để phân tích dữ liệu và đề xuất mô hình dự báo nợ quá hạn thẻ tín dụng như sau: Nợ quá hạn = 0 tuổi + 1 thu nhập + 2 tài sản + 3 thất nghiệp + 4 sở hữu nhà + 5 số người phụ thuộc + 6 hôn nhân + 7 giáo dục + 8 bảo hiểm sức khỏe + 9 số lượng thẻ + 10 số dư sau khi thanh toán + 11 tỉ lệ nợ/thu nhập + 12 phá sản + Trong đó, nợ quá hạn là các khoản nợ trễ hạn từ 2 kỳ sao kê liên tiếp trở lên. i : Là các hệ số hồi quy tương ứng.
: Là phần nhiễu.