Chương I: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các ngiên cứu thực nghiệm Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và giải pháp Kết luận chung CHUONG 2: CO SO LY THUYET VE RUI RO TIN DỤNG VÀ KHẢ NANG SINH LOI CUA NGAN HANG THUONG MAI 2. Cơ sở lý thuyết về rủi ro tin dung 2. Khái niệm rủi ro tín dụng Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là một hoạt động quan trọng và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Theo Luật các tổ chức tín dụng (Văn bản hợp nhất số 07VBHN-VPQH ngày 12/12/2017 của Quốc hội), “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử đụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Khi cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng sẽ tiến hành đánh giá khả năng của khách hàng nhằm bảo đảm khách hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Tuy nhiên không thể bảo đảm một cách chắc chắn về khả năng trả nợ của khách hàng do nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. Điều này có thể dẫn đến những rủi ro, mắt mát đối với tài sản của ngân hàng. Một trong số các đặc tinh của rủi ro là tính khó xác định, có thể xảy ra hay không, xảy ra lúc nào và thiệt hại ở mức độ ra sao.
Vì vậy, chính sách phòng ngừa rủi ro được các nhà quan trị ngân hàng quan tâm hàng dau, song rủi ro tín dụng vẫn là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra thất thoát và dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng. Heffernan (1996) quan sat rằng rủi ro tín dụng là rủi ro khi tài sản hoặc khoản vay trở nên không thể phục hồi trong trường hợp hoàn toàn vỡ nợ hoặc rủi ro chậm trễ trong việc phục vụ khoản vay. Ủy ban giám sát ngân hàng Basel - BCBS (1999) xác định rủi ro tín dụng là tiềm năng mà một người vay ngân hàng hoặc đối tác sẽ không đáp ứng các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận (Kargi, 2011). Trong khi đó, các nghiên cứu ở Việt Nam cũng cho thấy rủi ro tín dụng là những khả năng mà theo đó, tổ chức tín dụng sẽ không thể thu hồi đầy đủ và đúng hạn các khoản tín dụng đã cấp.
Nói cách khác, rủi ro tín dụng là việc khách hàng không trả đầy đủ những khoản nợ cho tổ chức tín dụng theo đúng cam kết, dù với bất kì lí do gì (Trần Vũ Hải, 2008). Theo Nguyễn Thị Kim Nhung và các cộng sự (2017), rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thê là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản sốc và lãi vay, gây ra những tôn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Thông tư quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tô chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài (Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-NHNN ngày 31/3/2014 của NHNN) giải thích rằng rủi ro tin dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ mà họ đã cam kết. Từ những cách tiếp cận khác nhau, đề tài tiếp cận theo hướng rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong nghiệp vụ cấp tín dụng của NHTM, đó là việc khách hàng không thể thực hiện đúng cam kết đối với vốn gốc hoặc lãi (hoặc cả gốc và lãi) trong hợp đồng tín dụng giữa NHTM và khách hàng vay.
Rủi ro tín dụng là một trong những mối lo ngại rất lớn của các NHTM vì rủi ro này không những ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động và uy tín của ngân hàng mà còn quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Rủi ro tín dụng làm cho giá trị tài sản của ngân hàng giảm sút, làm mắt vốn và sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng. Bessis (2002) nhắn mạnh rằng, ngân hàng cần đặc biệt quan tâm đến rủi ro tín dụng vì chỉ cần một số lượng nhỏ các khách hàng chính của ngân hàng mắt khả năng thanh toán cũng có thể dẫn đến những tổn thất lớn cho ngân hàng. Đặc biệt, đối với các ngân hàng còn nghèo nàn trong việc kinh doanh dịch vụ tài chính, trong khi tín dụng được coi là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu thì rủi ro tín dụng lại càng được quan tâm nhiều hơn.
Rủi ro tín dụng xảy ra có thê gây ra những tổn thất tài chính cho NHTM, làm ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như khả năng sinh lời của NHTM, thất thoát về nguồn vốn và suy giảm khả năng chỉ trả và khả năng thanh toán các khoản nợ, và có thể là nguyên nhân gây ra những rủi ro khác dẫn đến hậu quả nghiêm trọng và phá vỡ tính ôn định trong hoạt động của NHTM. Phòng ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng là vấn đề khó khăn, phức tạp. Rủi ro tín dụng thường khó kiêm soát và dẫn đến những thiệt hại, thất thoát về vốn và thu nhập của ngân hàng (Đỗ Đoan Trang, 2019).Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng 2. Tỷ lệ nợ xấu Theo Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-NHNN ngày 31/3/2014 của NHNN thì nợ xấu được hiểu là những khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5.
Nợ nhóm 3 là nợ dưới tiêu chuẩn, các khoản nợ đã quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày. Nợ nhóm 4 gồm là nợ nghi ngờ, đó là các khoản nợ đã quá hạn từ 181 đến 360 ngày. Nợ nhóm 5 là nợ có khả năng mất vốn, chính là các khoản nợ đã quá hạn trên 360 ngày. Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng dư nợ cho vay.
„ Nợ xấu (thuộc nhóm 3, 4, 5) Tỷlệnợgxâu= CX «100% Tong du no cho vay Tỷ lệ nợ xấu là một trong những chỉ tiêu luôn được các NHTM chú trọng và duy trì ở mức thấp, thông qua việc xây dựng tiêu chí chặt chẽ ngay từ công tác thẩm định khách hàng trước khi cấp tín dụng đến kiêm soát sau cho vay nhằm giảm thiêu tỷ lệ này. Tỷ lệ nợ xấu càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng càng thấp, rủi ro tín dụng cảng cao. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng Theo Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-NHNN ngày 31/3/2014 của NHNN, dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thé xảy ra do khách hàng của tô chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng.
Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự phòng cụ thê và dự phòng chung. Dự phòng cụ thé là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ được phân theo nhóm nợ cụ thể. Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các tô chức tín dụng khi chất lượng các khoản nợ suy giảm. Dự phòng rủi ro đánh giá khả năng chi tra cua ngân hàng khi rủi ro xảy ra.
Mục đích của việc sử dụng dự phòng rủi ro là nhằm bù đắp tôn thất đối với những khoản nợ của ngân hàng xảy ra trong trường hợp khách hàng không có khả năng chi trả. Vì vậy, theo quy định của pháp luật và để bảo đảm cho sự hoạt động an toàn, các NHTM sẽ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng được căn cứ vào việc phân loại nợ tại ngân hàng. Các tô chức tín dụng căn cứ vào các tiêu chuẩn định tính và định lượng dé đánh giá mức độ rủi ro của các khoản vay và các cam kết ngoại bảng, trên cơ sở đó phân loại các khoản nợ vào các nhóm nợ thích hợp.
Dự phòng rủi ro tín dụng Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng = —————T8ngdun ~ x 100% Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng càng cao thì khả năng dự phòng rủi ro sẽ càng cao dé đủ bù đắp thiệt hại có thê xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân cả về khách quan và chủ quan. Theo nghiên cứu của Phạm Thái Hà (2017), Dương Ngọc Hào (2015) đã đề cập đến nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, nguyên nhân khách quan là do môi trường chính trị, pháp lý, môi trường kinh doanh hay từ chính khách hàng vay vốn, hoặc do những điều kiện bất khả kháng như thiên tai, dịch họa; nguyên nhân chủ quan là do nội bộ ngân hàng như chính sách tín dụng thiếu minh bạch và hoàn thiện, trình độ năng lực cán bộ quản lý. Nguyên nhân khách quan - Môi trường chính trị và pháp lý Môi trường chính trị và pháp lý là môi trường có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Nếu tình hình chính trị xã hội không én dinh thi không chỉ riêng các khách hàng mà cả ngân hàng cũng khó có thể yên tâm tập trung vào đầu tư, mở rộng kinh doanh, đặc biệt là mở rộng tín dụng. Môi trường pháp lý cũng có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng. Xác lập một khuôn khổ pháp luật đồng bộ, nhất quán điều chỉnh các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường được xem như là điều kiện tiên quyết đảm bảo thị trường hoạt động có hiệu quả. Môi trường pháp lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, còn nhiều kẻ hở là một trong những nguyên nhân dẫn đến gian lận, lừa đảo trong hoạt động cấp tín dụng từ phía ngân hàng cũng như khách hàng.
- Môi trường kinh tế Môi trường kinh tế được phản ánh qua chu kỳ kinh tế, các chính sách kinh tế vĩ mô từng thời kỳ và tác động của xu thế toàn cầu hóa.