Chương 1 cũng trình bày về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng mô hình hồi quy Logistic, cuối cùng là kết cấu của luận văn. MÔ HÌNH LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Khái niệm nợ vay Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNNVN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Như vậy, vay nợ là một hình thức khách hàng nhận một khoản tiền từ tổ chức tín dụng để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Việc vay nợ, hay có thể nói một cách khác là sử dụng đòn bẩy tài chính, trên thực tế là điều rất thường gặp đối với tất cả các doanh nghiệp. Doanh nghiệp thông thường phát sinh vay nợ vì một số nguyên nhân: (1) Quy mô vốn của doanh nghiệp nhỏ, nếu chỉ dựa vào vốn chủ sở hữu thì không thể mở rộng HĐKD (thống kê trong đến cuối năm 2016, tại Việt Nam có khoảng 590.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), chiếm tỷ trọng khoảng 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam. Hàng năm, các doanh nghiệp SME đóng góp khoảng 45% vào GDP cả nước và 31% tổng số thu ngân sách Nhà nước); (2) Theo lý thuyết, vì tài trợ bằng nợ vay rẻ hơn vốn cổ phần do lãi suất mà doanh nghiệp trả nợ vay được miễn thuế (thuế được đánh sau lãi vay), nên một doanh nghiệp sử dụng nợ sẽ có khả năng tạo được kết quả HĐKD tốt hơn so với 100% vốn cổ phần do tận dụng lợi ích từ lá chắn thuế của nợ. Khái niệm khả năng trả nợ của khách hàng Trước khi ra quyết định cấp tín dụng đối với một khách hàng, ngân hàng phải xem xét, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng có đủ đảm bảo thanh toán khoản vay đến hạn hay không.
Vậy xét về mối quan hệ tín dụng với ngân hàng, khả năng 8 trả nợ được hiểu khái quát là việc ngân hàng đánh giá được khách hàng có thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho tất cả các khoản vay trong toàn bộ thời gian quan hệ tín dụng hoặc trong khoảng thời gian xác định hay không. Thực tế vẫn chưa có khái niệm, tiêu chuẩn đo lường chính xác và thống nhất về khả năng trả nợ, mà chỉ xác định thông qua các biểu hiện, các dấu hiệu “mất khả năng trả nợ” và loại trừ các trường hợp này sẽ là nhóm khách hàng có “khả năng trả nợ”. Căn cứ theo tài liệu Basel Committee on Banking Supervision (2006), Ủy Ban Basel về Giám Sát Ngân hàng định nghĩa khách hàng không có khả năng trả nợ là những khách hàng thuộc một trong các dấu hiệu hoặc tất cả dấu hiệu: (1) Khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ khi đến hạn mà chưa tính đến việc ngân hàng bán tài sản (nếu có) để hoàn trả; (2) Khách hàng có các khoản nợ xấu có thời gian quá hạn trên 90 ngày. Tại Việt Nam, theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 quy định TCTD phân loại nợ theo phương pháp định tính thành 05 nhóm như sau: - Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.
- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. - Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất. - Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao.
- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. 9 Dựa vào phương pháp phân loại nợ định tính như trên, thì các khách hàng phân loại nợ nhóm 1 là khách hàng được đánh giá là có khả năng trả nợ, các khách hàng được phân loại nợ nhóm 2 cũng được đánh giá là có khả năng trả nợ mặc dù khả năng trả nợ trước mắt là suy yếu. Đối với các khách hàng được phân loại nợ nhóm 3, 4, 5 thì đánh giá là mất khả năng trả nợ, cũng theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN thì nhóm nợ 3, 4, 5 được gọi là nợ xấu. Như vậy có thể hiểu các khách hàng mất khả năng trả nợ đồng nghĩa với việc các khách hàng phát sinh nợ xấu, các khách hàng có khả năng trả nợ là những khách hàng không phát sinh nợ xấu.
Vai trò của đánh giá khả năng trả nợ khách hàng trong rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là rủi ro thất thoát tài sản phát sinh khi bên vay không thực hiện thanh toán nợ bao gồm lãi hoặc nợ gốc khi đến hạn thanh toán hay còn gọi là tổn thất mất vốn. Các ngân hàng trên thế giới đang áp dụng mô hình dựa trên hệ thống dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng theo tiêu chuẩn Basel II. Các NHTM Việt Nam đang trong quá trình xây dựng cho mình hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ chuẩn xác nhất để từng bước tiếp cận và áp dụng theo tiêu chuẩn Basel II. Theo quy định của Basel, tổn thất tín dụng của một danh mục tín dụng phân chia thành 02 loại: (1) Khoản tổn thất dự tính được-EL(Expected Loss) và (2) Khoản tổn thất không dự tính được-UL (Unexpected Loss).
Trong đó, tổn thất dự tính được-EL là mức tổn thất trung bình có thể tính được từ các số liệu thống kê trong quá khứ, đây là mức tổn thất ngân hàng kỳ vọng sẽ xảy ra trong một khoảng thời gian. Ngân hàng có thể sử dụng chỉ tiêu tổn thất dự tính làm chuẩn để ra quyết định cho vay, nếu tổn thất trong dự tính của khách hàng vượt quá tỷ lệ cho phép theo quy định của ngân hàng thì ngân hàng tự động từ chối cho vay khách hàng đó. Đối với mỗi khoản vay hay mỗi khách hàng, khoản tổn thất dự tính được-EL xác định theo công thức: EL=PD*LGD*EAD (2.1) Trong đó, PD (Probability of Default) là xác suất khách hàng không trả được nợ trong 12 tháng tới; EAD (Exposure of Defaut) là dư nợ của khách hàng tại thời điểm không trả được nợ LGD (Loss Given Default) là tỷ lệ mất vốn dự kiến 10 Việc xác định khả năng trả nợ của khách hàng là việc đầu tiên và quan trọng trong việc xác định khoản tín dụng tổn thất dự tính được. Để xác định được PD-xác suất không trả được nợ trong vòng 1 năm của khách hàng, ngân hàng phải căn cứ vào dữ liệu tài chính, phi tài chính và một số dữ liệu cảnh báo khác của khách hàng trong vòng 5 năm gần nhất.
Từ những dữ liệu trên, ngân hàng nhập vào một mô hình định sẵn để từ đó tính được xác suất không trả được nợ của khách hàng và mô hình này thường được xây dựng bởi các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp. Nhiệm vụ của luận văn này là tập trung đi tìm các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng, trên cơ sở đó đề xuất mô hình nghiên cứu để đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến khả năng trả nợ của khách hàng, và khách hàng cụ thể ở đây là doanh nghiệp. Đặc điểm đánh giá khả năng trả nợ vay của khách hàng doanh nghiệp Đánh giá khả năng trả nợ vay của KHDN hay nói cách khác là thẩm định khả năng trả nợ của doanh nghiệp là việc đánh giá độ tín nhiệm của doanh nghiệp. Độ tín nhiệm là khả năng một doanh nghiệp đảm bảo cho các nghĩa vụ trả nợ.
Thông thường để đánh giá khả năng trả nợ vay của KHDN, ngân hàng sẽ thực hiện đánh giá các nội dung như sau: Một là đánh giá chung về khách hàng, bao gồm: (1) Đánh giá về tư cách và năng lực pháp lý, năng lực điều hành và quản lý SXKD của khách hàng. Những thông tin này được dùng để đánh giá chung về khả năng hiện tại cũng như tính cạnh tranh của doanh nghiệp trong tương lai. Đây là điều cần thiết để biết liệu doang nghiệp có thể đứng vững trước những thay đổi bên ngoài cũng như khả năng mở rộng hoạt động; (2) Đánh giá, phân tích tình hình hoạt động SXKD của khách hàng như đánh giá về năng lực sản xuất, khả năng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào, phương thức tiêu thụ và mạng lưới phân phối, sản lượng và doanh thu, …; (3) Đánh giá về hoạt động và triển vọng của khách hàng như về thị trường, sản phẩm dịch vụ, kênh phân phối; (4) Phân tích tình hình quan hệ với ngân hàng. Hai là đánh giá về tình hình tài chính của khách hàng.
Phân tích tài chính là việc xác định những điểm mạnh và những điểm yếu hiện tại của doanh nghiệp qua việc 11 tính toán và phân tích những chỉ tiêu khác nhau sử dụng những số liệu từ các báo cáo tài chính. Phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn cần căn cứ vào báo cáo tài chính gần nhất, bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Thuyết minh báo cáo tài chính (bắt buộc), bổ sung Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (nếu có) và một số nguồn thông tin khác như: Số lượng lao động, Bảng thanh toán lương, … Ba là đánh giá phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án dầu tư của khách hàng, một số nội dung cần đánh giá như: Mục tiêu phương án hoặc kế hoạch kinh doanh, quy mô sản xuất kinh doanh của phương án, cách thức tiến hành phương án, tính khả thi của phương án hoặc dự án và tính hiệu quả về mặt tài chính của phương án hoặc dự án. Mô hình lý thuyết về đánh giá khả năng trả nợ vay 2.