CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại. Khái niệm Một trong những hoạt động kinh doanh chủ yếu và lâu đời của các NHTM đó chính là hoạt động tín dụng. Đặc biệt, đối với hệ thống các NHTM Việt Nam, hoạt động này càng đóng vai trò quan trọng khi mà nó chiếm trên 80% trong tổng thu nhập.
Đây là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu nhưng đồng thời cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Bản chất của tín dụng là sự ứng trước của các NHTM cho người vay. Sau một chu kì sản xuất hoặc luân chuyển hàng hóa thì khách hàng mới có khả năng trả nợ. Do đó, rủi ro các NHTM không thu được nợ rất dễ xảy ra.
Ở Việt Nam, trong từ điển kinh tế học hiện đại, rủi ro được định nghĩa: Rủi ro là hoàn cảnh trong đó một sự kiện xảy ra với một xác suất nhất định hoặc trong trường hợp quy mô của sự kiện đó có một phân phối xác suất. Rủi ro tín dụng (RRTD) trong NHTM là khả năng xảy ra tổn thất về thu nhập hoặc vốn của định chế tài chính do khách hàng không thực hiện đúng các cam kết trên hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh. Hoặc đơn giản hơn, RRTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (TCTD) do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Cho đến nay, tồn tại khá nhiều quan điểm khi trình bày nội hàm của RRTD, chẳng hạn: 9 Theo định nghĩa của Ủy ban Basel về các vấn đề quốc tế (BCBS): “RRTD là rủi ro hoặc sự mất mát do người đi vay hoặc đối tác gây ra.
“Rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất”. Koch (1995), một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. RRTD là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”. Trong bộ “17 nguyên tắc quản trị RRTD” của Basel 2 được Ủy ban Basel ban hành tháng 9/2000 có đề cập: “RRTD là khả năng bên vay nợ ngân hàng hoặc bên đối tác không đáp ứng nghĩa vụ thanh toán theo các điều khoản đã thỏa thuận”; Theo Joel Bessis (2001), RRTD được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc đó là sự giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay.
Fitch (2006), RRTD là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, RRTD là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng”. Tiếp đến, theo Khoản 1, Điều 3 của Thông tư 02/2013/TT-NHNN về phân loại tài sản có, mức trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, khái niệm RRTD được định nghĩa như sau: ”Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Thông qua các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu có rất nhiều định nghĩa khác nhau về RRTD, tuy nhiên các quan điểm đó đều thể hiện cùng một bản chất: RRTD là khả năng xảy ra những thiệt hại về mặt kinh tế mà NHTM phải gánh chịu 10 do khách hàng vay vốn thanh toán nợ không đúng hạn hoặc không hoàn trả đuợc nợ vay (cả gốc và lãi), và bao gồm những khía cạnh chủ đạo sau: RRTD là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của các TCTD nói chung hay NHTM nói riêng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ và không đúng hạn cho ngân hàng.
Hiểu theo nghĩa rộng thì RRTD không chỉ diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán,. mà còn bao gồm cả việc các NHTM mua các loại trái phiếu của các doanh nghiệp. RRTD vì vậy còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả hay rủi ro sai hẹn. Tuy nhiên nếu hiểu RRTD theo nghĩa xác suất, đó là khả năng có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất.
Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một NHTM mặc dù có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ RRTD vẫn cao nếu tập trung đầu tư vào một nhóm khách hàng hay một loại ngành nghề. Cách hiểu này giúp cho các NHTM chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo bù đắp tổn thất khi xảy ra rủi ro. Như vậy, RRTD có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nó là sự không chắc chắn trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của người được cấp tín dụng cho ngân hàng theo đúng cam kết đã ký. RRTD là điều không thể tránh khỏi trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, có thể nói rằng việc ngân hàng kinh doanh trong lĩnh vực tài chính tín dụng chính là hoạt động kinh doanh thu lợi dựa trên rủi ro phát sinh từ hoạt động đó.
RRTD là loại rủi ro phức tạp nhất, việc quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. RRTD nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời sẽ nảy sinh các rủi ro khác. Như vậy, có thể hiểu RRTD là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, do khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân 11 hàng như đã cam kết trong hợp đồng. Đây là rủi ro gắn liền với hoạt động tín dụng, dẫn đến tổn thất tài chính như giảm thu nhập ròng và giá trị thị trường của vốn.
Phân loại rủi ro tín dụng RỦI RO TÍN DỤNG Rủi ro mất khả năng chi Nguyên nhân phát sinh trả Rủi ro đọng vốn Rủi ro giao Rủi ro tác Rủi ro danh dịch nghiệp mục Khả năng trả nợ Rủi ro lựa Rủi ro bảo Rủi ro Rủi ro nội Rủi ro tập Rủi ro không giới hạn ở chọn đảm nghiệp vụ tại trung hoạt động cho vay Hình 1.1: Rủi ro tín dụng của NHTM Nguồn: Nguyễn Văn Tiến (2015) Theo Nguyễn Văn Tiến (2015) thì việc phân loại rủi ro tín dụng có thể phân loại như sau: Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro: Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận: Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSBĐ, chủ thể đảm bảo, cách thứ đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của TSBĐ. 12 Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
Rủi ro danh mục: Là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung: Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của Khách hàng vay. Rủi ro tập trung: Khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số Khách hàng; cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng vị trí địa lý nhất định, cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Rủi ro tác nghiệp: là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng.
Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng: Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoản thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên, đến thời hạn quy ước nhưng Ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay. Rủi ro do mất khả năng chi trả: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp doanh nghiệp đi vay mất khả năng trả nợ, ngân hàng phải thanh lý TSBĐ của doanh nghiệp để thu nợ. Rủi ro không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động khác mang tính chất tín dụng của ngân hàng nhu bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ… Theo Thông tư 41/TT/2016-NHNN thì rủi ro tín dụng bao gồm (i) Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trừ các trường hợp quy định tại điểm b khoản này; (ii) Rủi ro tín dụng đối tác là rủi ro do đối tác không thực hiện hoặc 13 không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thanh toán trước hoặc khi đến hạn của các giao dịch.