CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về NHTM và hoạt động của các NHTM Lịch sử hình thành của NHTM được bắt nguồn từ nhu cầu kinh doanh hàng hóa, trao đổi tiền tệ của con người. Tại Ai Cập, hình thức sơ khai của các ngân hàng được hình thành dưới dạng các đền thờ. Vàng, bạc của cải của những người giàu có được gửi vào đây, tuy nhiên ngoài xã hội, các thương nhân lại rất cần sử dụng số của cải này để giao thương.
Trong hoàn cảnh đó, những thầy tu trông giữ đền xuất hiện. Họ lấy những của cải có sẵn để cho các thương nhân “ vay mượn” đồng thời tiếp tục nhận trông giữ của cải tiếp tục được gửi vào đền. Từ đó, khái niệm ngân hàng ra đời. Ngân hàng hoạt động như một thành phần trung gian giữa các tổ chức trong nền kinh tế, đặc trưng là nhận tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân dư thừa về vốn, sau đó dùng số tiền đó để cho vay đối với các cá nhân, tổ chức thiếu hụt vốn và có nhu cầu sử dụng, lợi nhuận thu từ phần lãi chênh lệch.
Ngân hàng thương mại là một loại hình của ngân hàng trung gian, có khối lượng tổng tài sản lớn nhất trong hệ thống ngân hàng. Ngày nay, khái niệm về NHTM được tiếp cận theo nhiều quan điểm trên thế giới. Tại Việt Nam, luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Luật ngân hàng Pháp năm 1941 quy định “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính".
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về NHTM, tuy nhiên về bản chất, NHTM là tổ chức kinh tế kinh doanh tiền tệ, thông qua hoạt động chính như nhận tiền gửi, cho vay, phát hành giấy tờ có giá và cung cấp các dịch vụ khác cho các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế. 5 NHTM giữ vai trò lớn trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế quốc gia. NHTM tham gia vào quá chỉnh luân chuyển vốn trên thị trường, kịp thời đáp ứng nhu cầu của mọi thành phần kinh tế, điều tiết lượng tiền lưu thông, cân bằng ổn định thị trường tiền tệ. Đồng thời hoạt động của ngân hàng thương mại góp phần hoàn thiện các chính sách kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, thúc đẩy đầu tư và gia tăng việc làm, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp.
Khái quát về hoạt động bảo lãnh ngân hàng 1. Lịch sử hình thành của hoạt động bảo lãnh Nằm trong hệ thống nghiệp vụ ngân hàng thương mại, bảo lãnh ngân hàng đã được sử dụng rộng rãi trong thương mại mậu dịch quốc tế. Hoạt động bảo lãnh lần đầu xuất hiện từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX tại Mỹ với những giao dịch nhỏ, lẻ, sơ khai. Đến đầu những 70, bảo lãnh ngân hàng thực sự phát triển và bùng nổ, đặc biệt trong những giao dịch thương mại quốc tế.
Nhiều tài liệu cho rằng, nguồn gốc của sự việc này bắt nguồn từ sự phát triển về dầu mỏ ở các quốc gia Trung Đông. Thời điểm này, Trung Đông liên tục ký kết những hợp đồng có giá trị rất lớn với các nước phương Tây trong các dự án về cơ sở hạ tầng hay nông nghiệp. Với giá trị hợp đồng lớn như vậy, Trung Đông yêu cầu sự chắc chắn thực hiện nghĩa vụ giao dịch của bạn hàng và đòi hỏi sự an toàn và thuận lợi trong giao thương. Đáp ứng yêu cầu của Trung Đông, ngân hàng các nước phương Tây phát hành bảo lãnh, nhằm đảm bảo chắc chắn về việc thực hiện nghĩa vụ kinh tế của bên mua, góp phần hình thành niềm tin và đảm bảo an toàn cho các bên tham giao giao dịch.
Ngày nay, bảo lãnh được sử dụng rộng rãi cả với những giao dịch trong nước. Các doanh nghiệp mua bán hàng hóa trong một quốc gia cũng tìm đến ngân hàng xin phát hành bảo lãnh. Rất nhiều doanh nghiệp và các nhà kinh doanh có thể tìm được nguồn vốn cần thiết đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của mình, đồng thời đảm bảo sự an toàn cũng như phòng ngừa rủi ro trong giao thương. Doanh thu từ bảo lãnh ngày càng tăng.
Bảo lãnh chính thức trở thành một trong những nghiệp vụ ngân hàng được ưa chuộng trên thế giới. 6 Tại Việt Nam, bảo lãnh bắt đầu phát triển từ những năm 90 khi đất nước bước vào thời kì hội nhập kinh tế với thế giới. Tuy nhiên thời kì này quy trình bảo lãnh chưa được hoàn thiện, nghiệp vụ bảo lãnh chưa được thực hiện hợp lý và hiệu quả. Dựa trên những nhu cầu cấp thiết của nền kinh tế để hoàn thiện hoạt động bảo lãnh, các định chế pháp lý lần lượt ra đời.
Ngày 17/02/1992, Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành quy định 192/NH-QĐ về bảo lãnh và tái vay vốn nước ngoài. Tiếp đó, ngày 19/04/1992, Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành quy chế đầu tiên về bảo lãnh tại ngân hàng thương mại, quyết định số 196/QĐ-NH14. Ngày 25 tháng 8 năm 2000, Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành quy định số 283/2000/QĐ-NHNN14 thay thế cho quy định trước đây. Sau đó, ngày 11/02/2003, Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành quyết định số 112/2003/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày 25/08/2000.
Ngày 26 tháng 6 năm 2006, Thống đốc Ngân hàng nhà nước tiếp tục ban hành quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế bảo lãnh. Ngày 2/12/2012, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành thông tư số 28/2012/TT-NHNN quy định về nghiệp vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài thay thế Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/06/2006 của Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế bảo lãnh ngân hàng. Ngày 15 tháng 10 năm 2013, Thủ tướng chính phủ ban hành quyết định số 58/2013/QĐ-TTg quyết định ban hành quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ngày 04 tháng 05 năm 2015, NHNN ban hành thông tư hướng dẫn các TCTD trong cho vay có bảo lãnh của quỹ bảo lãnh tín dụng theo quy định tại quyết định số 58/2013/QĐ-TTG.
Ngày 06/10/2017, NHNN ban hành thông tư số 09/VBHN-NHNN hợp nhất thông tư quy định về bảo lãnh ngân hàng, kèm theo đó là Thông tư số 13/2017/TT-NHNN ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2015/TT-NHNN. Gần đây nhất là Thông tư số 45/2018/TT- NHNN, ban hành ngày 28 tháng 12 năm 2018 về việc hướng dẫn các TCTD trong cho vay có bảo lãnh tín dụng theo quy định tại nghị định số 34/2018/NĐ-CP ngày 08/03/2018của chính phủ về việc thành lập tổ chức và hoạt động của quỹ bảo lãnh tín 7 dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các quy định ban hành cụ thể chính xác, phù hợp với thực trạng nền kinh tế, đáp ứng được nhu cầu của các thành phần tham gia giao thương, góp phần đưa hoạt động bảo lãnh ngày càng phát triển. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động bảo lãnh ngân hàng • Khái niệm của bảo lãnh ngân hàng được tiếp cận theo nhiều quan điểm khác nhau Theo pháp luật Mỹ, bão lãnh ngân hàng được hiểu là thoả thuận trong đó người bão lãnh đồng ý sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên nợ khi bên nợ không trả nợ; bảo lãnh là việc bên hứa thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ.
Theo pháp luật Trung quốc, bảo lãnh ngân hàng được hiểu là hành vi mà căn cứ vào thoả thuận bảo lãnh và chủ nợ, người bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc chịu trách nhiệm trước con nợ nếu con nợ không trả được nợ. Theo pháp luật Dân sự 2015, bảo lãnh ngân hàng được hiểu là: “bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây được gọi là bên được bão lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bão lãnh không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ.” Theo thông tư 28/2012/TT-NHNN, “bão lãnh ngân hàng là hình thức cấp tính dụng, theo đó, bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận”. Mặc dù có rất nhiều quan điểm về bảo lãnh ngân hàng, nhưng tựu chung lại có thể hiểu rằng bảo lãnh ngân hàng là một dịch vụ của ngân hàng thương mại, theo đó ngân hàng sử dụng uy tín và sức mạnh tài chính của mình để cam kết với bên thụ hưởng về việc thực hiện nghĩa vụ đã được quy định trước. Ngân hàng sẽ thực hiện thay nghĩa vụ của bên được bảo lãnh trong phạm vi số tiền được đề nghị.
Sau khi thực hiện nghĩa vụ, 8 ngân hàng có quyền truy đòi bên được bảo lãnh và bên được bảo lãnh có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng số tiền này. • Bảo lãnh ngân hàng có những đặc điểm nổi bật sau: Một là, bảo lãnh ngân hàng là một mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau Sau khi tiếp nhận đơn đề nghị cấp bảo lãnh, ngân hàng xem xét và cấp thư bảo lãnh trong trường hợp đồng ý với khoản bảo lãnh này. Thư bảo lãnh được gửi cho người thụ hưởng, hay nói cách khác, thư bảo lãnh là một hợp đồng giữ ngân hàng và người nhận bảo lãnh. Mặc dù hợp đồng này độc lập với hợp đồng cơ sở, nhưng thực chất, bão lãnh không chỉ là mối quan hệ hai bên, mà bảo lãnh là một quan hệ được tạo thành trong mối quan hệ nhiều bên.1: Mối quan hệ trong bảo lãnh ngân hàng Ngân hàng bảo lãnh 2 3 1 Bên được bảo lãnh 1 Bên nhận bảo lãnh 1.
Mối quan hệ giữa người nhận bảo lãnh và người được bảo lãnh 2.