Khóa luận: Tác động của khả năng sinh lời đến nợ xấu NHTM Việt Nam (2013-2023)

Khóa luận phân tích tác động của khả năng sinh lời đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2013-2023 và các giải pháp thực tiễn.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2025

129
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của nợ xấu ngân hàng

Nợ xấu ngân hàng là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá sức khỏe tài chính của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam. Trong giai đoạn 2013-2023, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại đã trải qua những biến động đáng kể, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lờisự ổn định của hệ thống ngân hàng. Rủi ro tín dụng xuất phát từ việc khách hàng không thể thanh toán khoản vay đúng hạn, gây ra những tổn thất lớn cho các ngân hàng thương mại Việt Nam. Hiểu rõ mối quan hệ giữa sinh lờinợ xấu giúp các nhà quản lý ngân hàng đưa ra những quyết định kinh doanh chiến lược hợp lý.

1.1. Định nghĩa nợ xấu trong ngân hàng

Nợ xấu là những khoản nợ mà khách hàng đã quá hạn thanh toán trên 90 ngày hoặc lâu hơn. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nợ xấu bao gồm nợ cần có dự phòng, nợ khó đòi và nợ mất khả năng thanh toán. Tỷ lệ nợ xấu (NPL) được tính bằng tổng nợ xấu chia cho tổng nợ phát hành, là một chỉ tiêu hết sức nhạy cảm trong quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại.

1.2. Ảnh hưởng của nợ xấu đến hoạt động ngân hàng

Nợ xấu ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lời của ngân hàng thông qua việc tăng chi phí dự phòng rủi ro và giảm thu nhập lãi. Ngân hàng phải trích lập dự phòng để bảo vệ vốn chủ sở hữu, từ đó ảnh hưởng đến tỷ lệ lợi nhuận ROA và ROE. Mức độ nợ xấu cao cũng làm giảm niềm tin của nhà đầu tư và khách hàng về tính thanh khoản của ngân hàng.

II. Thực trạng sinh lời ngân hàng giai đoạn 2013 2023

Trong giai đoạn 2013-2023, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã đạt được những kết quả sinh lời khác nhau tùy thuộc vào chiến lược quản lý rủi ro tín dụngkhả năng kiểm soát chi phí. Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng vốn (ROE)lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) là hai chỉ tiêu chính để đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng. Các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp thường ghi nhận thu nhập lãi cao hơn và chi phí dự phòng thấp hơn. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) cũng biến động theo mức độ nợ xấuchính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước.

2.1. Tỷ lệ ROA và ROE của ngân hàng Việt Nam

ROA (Return on Assets) cho thấy mức độ hiệu quả sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận. Trong giai đoạn 2013-2023, ROA trung bình của các ngân hàng thương mại dao động từ 0.5% đến 1.5%. ROE (Return on Equity) thể hiện lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, thường ở mức 5% đến 15%. Các ngân hàng với nợ xấu cao thường có ROA và ROE thấp hơn do phải trích lập dự phòng lớn.

2.2. Thu nhập lãi NIM và tác động của nợ xấu

NIM (Net Interest Margin) là hiệu số giữa lãi suất cho vaylãi suất huy động vốn. Nợ xấu cao làm giảm NIM vì ngân hàng phải giảm lãi suất cho vay để thu hút khách hàng mới và bù đắp mất mát. Giai đoạn 2013-2023, NIM trung bình của ngân hàng Việt Nam dao động từ 2.5% đến 3.5%, thấp hơn các nước trong khu vực.

III. Mối quan hệ giữa sinh lời và nợ xấu

Mối quan hệ giữa khả năng sinh lờinợ xấu có tính chất phức tạp và đa chiều. Từ một góc độ, nợ xấu là hệ quả của quá trình cho vay tín dụng mà ngân hàng thực hiện để tăng thu nhập lãikhả năng sinh lời. Tuy nhiên, nợ xấu cao lại làm giảm lợi nhuận ròng thông qua việc tăng chi phí dự phònglỗ từ nợ khó đòi. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy có mối tương quan nghịch giữa tỷ lệ nợ xấuchỉ tiêu lợi nhuận ROA, ROE. Điều này đặt ra thách thức lớn cho các nhà quản lý ngân hàng trong việc cân bằng giữa tăng trưởng tín dụngkiểm soát rủi ro.

3.1. Tương quan giữa tăng trưởng tín dụng và nợ xấu

Tốc độ tăng trưởng tín dụng (LG) cao thường đi kèm với rủi ro nợ xấu tăng. Giai đoạn 2013-2015, các ngân hàng thương mại Việt Nam tăng trưởng tín dụng nhanh nhưng kiểm soát chất lượng kém, dẫn đến nợ xấu tăng đáng kể. Từ 2016-2023, các ngân hàng chủ động giảm tốc độ tăng trưởng để kiểm soát nợ xấu, từ đó cải thiện khả năng sinh lời.

3.2. Chiến lược quản lý rủi zo tín dụng để tăng sinh lời

Các ngân hàng thương mại áp dụng quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả thông qua đánh giá tín dụng khắt khe, giám sát nợ định kỳ và trích lập dự phòng hợp lý. Kiểm soát chi phí hoạt độngtăng thu nhập phi lãi cũng giúp cải thiện khả năng sinh lời mà không phải tăng nợ xấu. Các ngân hàng tiên phong trong công nghệ tín dụngdữ liệu khách hàngnợ xấu thấp hơn.

IV. Giải pháp hạn chế nợ xấu và tăng sinh lời cho ngân hàng Việt Nam

Để giải quyết thách thức nợ xấu và cải thiện khả năng sinh lời, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần triển khai một loạt giải pháp toàn diện. Thứ nhất, tăng cường công nghệ tín dụng để nâng cao hiệu quả đánh giá rủi ro khách hàng. Thứ hai, tối ưu hóa danh mục tín dụng bằng cách tập trung vào các ngành kinh tếrủi ro tín dụng thấp. Thứ ba, cải thiện quy trình quản lý nợ bao gồm giám sát định kỳ, tái cơ cấu nợ sớm và xử lý nợ khó đòi hiệu quả. Cuối cùng, phối hợp chặt chẽ giữa Ngân hàng Nhà nướcChính phủ trong xây dựng chính sách tín dụng phù hợp với tình hình kinh tế vĩ mô.

4.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả sinh lời tại ngân hàng

Ngân hàng cần tối ưu hóa cơ cấu tài sản bằng cách tăng tỷ trọng cho vay lãi suất cao nhưng rủi ro tín dụng thấp. Quản lý dự phòng hợp lý theo tiêu chuẩn IFRS 9 giúp tối ưu hóa chi phí dự phòng. Kiểm soát chi phí hoạt động, đẩy mạnh thu nhập phi lãi từ dịch vụ, thẻ, thanh toán là những cách để tăng tổng lợi nhuận mà không phải chỉ dựa vào thu nhập lãi.

4.2. Kiến nghị chính sách cho Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ

Ngân hàng Nhà nước nên xây dựng hệ thống thông tin tín dụng tập trung thông qua Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia (CIC) để nâng cao transparency. Chính phủ cần tạo môi trường kinh tế ổn định để giảm tỷ lệ nợ xấu do suy thoái kinh tế. Cần hỗ trợ tái cơ cấu nợ cho doanh nghiệp khó khăn một cách có điều chỉnh để cân bằng giữa hỗ trợ kinh tếkỉ luật thị trường tín dụng.

28/12/2025
Khóa luận tốt nghiệp ngân hàng tác động của khả năng sinh lời ảnh hưởng đến nợ xấu của ngân hàng thương mại việt nam giai đoạn 2013 2023

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về nợ xấu của NHTM Theo Luật Tổ chức tín dụng 2010, NHTM là “loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Các hoạt động kinh doanh chính của NHTM gồm “Nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác; Cấp tín dụng thông qua các hình thức: Cho vay, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, chiết khấu và tái chiết khấu các công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác, phát hành thẻ tín dụng; Ngân hàng cũng cung cấp các dịch vụ như: mở tài khoản thanh toán cho khách hàng, cung cấp các dịch vụ thanh toán (bao gồm thẻ ngân hàng, séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, lệch chi, nh thu, thanh toán quốc tế)”. Theo cách hiểu phổ biến, tín dụng thường được gắn liền với hoạt động “cho vay”.

Tuy nhiên, căn cứ theo khoản 3 Điều 107 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, “ngân hàng còn thực hiện nhiều hình thức cấp tín dụng khác như: Chiết khấu, tái chiết khấu; Bảo lãnh ngân hàng; Phát hành thẻ tín dụng; Bao thanh toán; Thư tín dụng và Hình thức cấp tín dụng khác theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước”. Trong thực tiễn hoạt động trong nền kinh tế, tín dụng là một trong những hoạt động then chốt tạo ra thu nhập cho các NHTM. Song song với tiềm năng lợi nhuận cao, hoạt động này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là RRTD – yếu tố có thể gây thiệt hại nghiêm trọng đến tình hình tài chính ngân hàng và ảnh hưởng lan toả đến sự bình ổn của nền kinh tế nói chung. Khái niệm rủi ro tín dụng tại NHTM Rủi ro tín dụng đã được nhiều học giả và tổ chức tài chính trên thế giới nghiên cứu và đưa ra các định nghĩa khác nhau, phản ánh bản chất và mức ảnh hưởng của loại rủi ro này trong hoạt động ngân hàng.

Neal (1996), rủi ro tín dụng được hiểu là một trong những loại rủi ro phát sinh khi ngân hàng cấp tín dụng hoặc đầu tư vào các công cụ nợ, trong đó “rủi ro tín dụng là xác suất người vay sẽ vỡ nợ trong cam kết trả nợ hoặc vay ngân hàng. Vỡ nợ xảy ra khi người đi vay không thực hiện được nghĩa 9 vụ tài chính đã cam kết, chẳng hạn như không trả lãi đúng hạn hoặc không hoàn trả khoản vay”. McKinsey & Company (1997) bổ sung rằng “rủi ro tín dụng là một rủi ro lớn mà các tổ chức tài chính phải đối mặt vì nó chiếm tới 60,0% rủi ro mà các ngân hàng thường phải đối mặt”, cho thấy tầm quan trọng của việc kiểm soát và quản trị loại rủi ro này. Trong bộ tài liệu “17 nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng” được Ủy ban Basel công bố vào tháng 9 năm 2000, “Rủi ro tín dụng là khả năng bên vay nợ ngân hàng hoặc bên đối tác không đáp ứng nghĩa vụ thanh toán theo các điều khoản đã thỏa thuận”.

Fraser và cộng sự (2001) cũng khẳng định rằng “rủi ro tín dụng là loại rủi ro rõ ràng nhất, đồng thời là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều thất bại trong hoạt động ngân hàng”. Joel Bessis (2001), trong cuốn Quản trị rủi ro ngân hàng, cho rằng “rủi ro tín dụng thể hiện qua tổn thất phát sinh do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc giá trị tín dụng của khoản vay suy giảm theo thời gian”. Tiếp cận từ góc độ hiện đại, Ricardas Mileris (2012) nhấn mạnh rằng “rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro chủ yếu mà các ngân hàng thương mại phải đối mặt, và mức độ hiệu quả trong quản trị rủi ro tín dụng có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định của toàn hệ thống ngân hàng”. Theo ông, rủi ro này xuất phát từ những nguyên nhân cụ thể liên quan đến việc khách hàng rơi vào trạng thái mất năng lực thực hiện trách nhiệm tài chính.

Về mặt pháp lý tại Việt Nam, khoản 8 Điều 3 Thông tư số 14/2023/TT-NHNN định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với tổ chức tín dụng phi ngân hàng”. Tổng hợp các quan điểm trên đã làm rõ, tuy có sự khác biệt nhưng các định nghĩa đều thống nhất về bản chất: rủi ro tín dụng là sự không chắc chắn liên quan đến việc người đi vay không thực hiện đúng các cam kết tài chính đã thỏa thuận với tổ chức cấp tín dụng. Xuất phát từ đó, trong khuôn khổ khóa luận này, tác giả sử dụng khái niệm: “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (TCTD) do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Khái niệm và phân loại nợ xấu 1.

Khái niệm nợ xấu 10 Nợ xấu là thuật ngữ sử dụng phổ biến trong ngân hàng, “nợ xấu là các khoản nợ khó đòi khi người đi vay không thể trả nợ hoặc bị trả chậm khi khoản nợ đến hạn thanh toán như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Cụ thể, nếu quá thời gian quá hạn thanh toán trên 90 ngày thì bị coi là nợ xấu”, theo khoản 8 Điều 3 Thông tư 11/2021/TT- NHNN, nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN. Tuy vậy, hiện vẫn chưa có sự đồng thuận chung giữa các quốc gia cũng như các tổ chức tài chính quốc tế về khái niệm và cách tiếp cận nợ xấu. Trên thực tế, các ngân hàng trên thế giới áp dụng những tiêu chí phân loại nợ xấu khác nhau, dẫn đến sự đa dạng trong cách xác định và đánh giá các nhóm nợ không có khả năng thu hồi.

Quỹ tiền tệ IMF (2019) chỉ rõ các khoản nợ được phân loại thành nợ xấu khi (1) quá hạn thanh toán gốc và lãi từ 90 ngày trở lên, hoặc (2) tiền lãi phải thanh toán bằng với tiền lãi 90 ngày trở lên được vốn hóa (tái đầu tư vào số tiền gốc), tái cấp vốn hoặc đáo hạn (thanh toán bị trì hoãn theo thỏa thuận), hoặc (3) có bằng chứng để tái phân loại thành nợ xấu dù chưa quá hạn thanh toán 90 ngày, ví dụ khi người đi vay nộp đơn xin phá sản.Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2006) xác định “khoản nợ được coi là nợ xấu khi 1 trong 2 điều kiện sau xảy ra: (1) Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; (2) Người vay đã quá hạn trả nợ trên 90 ngày”. Dựa theo quan điểm này, “nợ xấu bao gồm các khoản vay quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Nhóm chuyên gia tư vấn AEG của Liên Hợp Quốc (2004) định nghĩa một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Tại Việt Nam hiện nay, khái niệm nợ xấu theo quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, ban hành theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 của Thống đốc NHNN Việt Nam và có một số sửa đổi trong Thông tư số 09/2014/TT-NHNN ngày 18/3/2014 của Thống đốc NHNN.

Theo đó “Nợ xấu là những khoản nợ từ nhóm 3 trở lên. Hay nói cách khác, nợ xấu không được định nghĩa trực tiếp mà được xác định gián tiếp thông qua quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro 11 tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng. Theo đó, nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5 gồm nợ dưới chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn”. Nợ xấu nói chung được xem như một dấu hiệu của vấn đề rủi ro tiềm ẩn hoặc đã là rủi ro khi khách hàng bắt đầu sang nhóm 3.

Tuy nhiên, khi nói đến một khoản nợ xấu thì cho biết rất ít vấn đề, để xác định trọng tâm vấn đề phải tìm hiểu được nguyên nhân của khoản nợ đó. Nếu khoản nợ xấu là một biểu hiện của việc khách hàng không muốn hoặc không có khả năng hoàn trả thì có thể khoản vay đã có vấn đề nghiêm trọng và có nguy cơ không cứu vãn được. Nếu khoản nợ chỉ hình thành do việc tiêu thụ hàng hóa hoặc thu hồi các khoản phải thu chậm hơn thời gian dự tính hoặc do việc chậm trễ không tính trước được trong việc chuyển từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ trên thị trường, hoặc có lý do khách quan nào đó nhưng vẫn xử lý được thì vấn đề chưa đến mức nghiêm trọng. Hoàn trả đầy đủ khoản nợ gốc và lãi cho ngân hàng đến thời điểm đáo hạn là hành động hoàn tất mối quan hệ tín dụng hoàn hảo giữa Ngân hàng và khách hàng.

Như vậy, nợ xấu trong hoạt động tín dụng NHTM là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi khách hàng không thể thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính của mình cho Ngân hàng đúng hạn. Nhìn chung, một TCTD luôn phải ước tính trước những khoản nợ xấu trong chu kỳ kinh doanh hiện tại dựa vào những số liệu nợ xấu ở kỳ trước đó. Các tiêu chí phân loại nợ a.Phân loại nợ Phân loại nợ theo hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới (2015) đưa ra hệ thống phân loại nợ dựa trên mức độ rủi ro và khả năng thu hồi của từng khoản vay, bao gồm năm nhóm như sau: - Nợ thông thường (nợ đủ tiêu chuẩn): Đây là những khoản vay không có biểu hiện bất thường nào liên quan đến khả năng thanh toán. Việc trả nợ diễn ra đúng hạn, và tài sản bảo đảm có giá trị ngang bằng với khoản vay hoặc bằng tiền mặt.

Thời gian chậm trả, nếu có, không vượt quá 90 ngày.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ