phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu và hình vẽ, nội dung chính của đề tài được kết cấu thành 3 chương chính như sau: Chƣơng 1: Lý luận chung về tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank Ninh Sơn, Ninh Thuận. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank Ninh Sơn, Ninh Thuận. 1 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về tín dụng 1. Khái niệm tín dụng Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ chủ thể sở hữu sang chủ thể sử dụng trên cơ sở phải có sự hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu (Lê Thị Tuyết Hoa và Nguyễn Thị Nhung 2009). Theo Luật các TCTD năm 2010 (Luật số 47/2010/QH12) thì một số thuật ngữ có liên quan được quy định như sau: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế Theo Lê Thị Tuyết Hoa và Nguyễn Thị Nhung (2009), vai trò của tín dụng trong nền kinh tế như sau: - Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất của xã hội Tín dụng giúp điều hoà vốn từ các chủ thể tạm thời thừa vốn tới các chủ thể cần vốn. Như vậy, những nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi không có khả năng sinh lời nay đã được huy động trở thành hữu ích và tiếp tục sinh lợi; đối với những chủ thể đang bị thiếu hụt vốn cũng nhờ vậy được bổ sung kịp thời, đáp ứng nhu cầu mở rộng và phát triển sản xuất, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hoá. - Tín dụng là kênh truyền tải ảnh hưởng của Nhà nước đến các mục tiêu vĩ mô 2 Các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế bao gồm ổn định giá cả, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Các mục tiêu trên đều chịu ảnh hưởng rất lớn bởi khối lượng và cơ cấu tín dụng cung ứng trên thị trường.
Thông qua cơ chế tác động vào các điều kiện tín dụng như lãi suất, điều kiện vay.Nhà nước có thể điều chỉnh được việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, điều chỉnh được cơ cấu tín dụng theo ngành kinh tế hay theo vùng lãnh thổ. - Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước Để thực hiện các chính sách xã hội, Nhà nước có thể tài trợ bằng nguồn vốn không hoàn lại của Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, phương pháp này không phải lúc nào cũng hiệu quả, hơn nữa nguồn vốn của Ngân sách có giới hạn so với nhu cầu của các đối tượng xã hội, nhất là các nước chậm phát triển và đang phát triển. Vì vậy, để khắc phục hạn chế trên, ngày nay người ta có xu hướng thực hiện tài trợ bằng con đường tín dụng, như chính sách tín dụng ưu đãi đối với vùng sâu vùng xa, với các đối tượng xoá đói giảm nghèo, đối tượng học sinh, sinh viên nghèo hiếu học.
bằng cách hỗ trợ qua con đường tín dụng, nó còn buộc các đối tượng nhận được sự tài trợ phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo hoàn trả tín dụng, nên góp phần nâng cao kỹ năng, hiệu quả lao động sản xuất, học tập và từ đó có điều kiện phát triển như các chủ thể khác trong xã hội. - Tín dụng tạo điều kiện để mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại Không chỉ có vậy, tín dụng còn có vai trò quan trọng không thể thiếu trong việc mở rộng, phát triển các mối quan hệ đối ngoại và mở rộng giao lưu quốc tế. Thông qua việc cung cấp các khoản tín dụng tài trợ hoạt động xuất nhập khẩu, thu hút nguồn vốn của nước ngoài. tín dụng đã góp phần thúc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm cho các nước xích lại gần nhau.
Các nguyên tắc của tín dụng Theo thông tư 39/2016/TT- NHNN ngày 30/12/2016, hoạt động tín dụng muốn tồn tại và phát triền phải đảm bảo theo 2 nguyên tắc: Thứ nhất là hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng được thực hiện theo thoả thuận giữa TCTD và khách hàng, phù hợp theo quy 3 định tại Thông tư 39 của NHNN và các quy định của pháp luật có liên quan bao gồm cả pháp luật về bảo vệ môi trường. Thứ hai là khách hàng vay vốn TCTD phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích, hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng thời hạn đã thoả thuận với TCTD. Các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng tín dụng - Nhóm chỉ tiêu định lượng: Nguyễn Văn Tiến (2015) cho rằng cách tiếp cận truyền thống các chỉ tiêu định lượng phản ánh chất lượng tín dụng thông qua các chỉ tiêu như: Các chỉ tiêu nợ quá hạn, các chỉ tiêu nợ xấu, các chỉ tiêu sinh lời từ hoạt động tín dụng, các chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn, trích lập dự phòng và bù đắp RRTD,. Trong các chỉ tiêu này, nợ xấu là chỉ tiêu phổ biến nhất để đo lường RRTD.
Theo Quyết định số 22/VBNH-NHNN ngày 04/6/2014 liên quan đến việc phân loại nợ thì nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Nhóm 3 là các khoản nợ dưới tiêu chuẩn, các khoản nợ đã quá hạn từ 90 đến 180 ngày. Nhóm 4 gồm các khoản nợ nghi ngờ, với thời gian quá hạn từ 181 đến 360 ngày. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn là khoản nợ trong nhóm 5, đã quá hạn trên 360 ngày.
- Nhóm chỉ tiêu định tính: Trong quá trình đánh giá chất lượng tín dụng ngoài những chỉ tiêu có thể lượng hoá thì còn rất nhiều yếu tố mà không thể lượng hoá được. Các chỉ tiêu định tính được qua quy chế, chế độ, thể lệ tín dụng, qua độ thoả mãn của khách hàng đối với sản phẩm, độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng (Nguyễn Văn Tiến 2015). Rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1. Hoạt động tín dụng ngân hàng 1.
Bản chất của tín dụng Lê Thị Tuyết Hoa và Nguyễn Thị Nhung (2009) cho rằng, tín dụng là quá trình vận động của vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác, sau một thời gian nhất định vận động trở về nơi xuất phát với giá trị lớn hơn. Do vậy, bản chất tín dụng phải xem xét mối liên hệ kinh tế trong quá trình vận động của nó (giai đoạn phân phối vốn tín dụng, giai đoạn sử dụng vốn tín dụng, giai đoạn hoàn trả vốn tín dụng). 4 Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản, hoạt động truyền thống đối với hầu hết các NHTM. Đặc trưng của bản chất tín dụng là tiềm ẩn rủi ro cao.
Cơ sở quyết định một khoản tín dụng là lòng tin của ngân hàng về khả năng thanh toán của khách hàng, là sự tín nhiệm, sự tin tưởng lẫn nhau hay có hình thức bảo đảm tín dụng phù hợp. Nguyên tắc tín dụng Theo thông tư 39/2016/TT- NHNN ngày 30/12/2016, khách hàng phải sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng; khi có nhu cầu vay vốn thì khách hàng phải có phương án cụ thể và thuộc đối tượng ngân hàng xem xét cho vay. Khách hàng phải hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu vì đại bộ phận vốn kinh doanh của ngân hàng là nguồn vốn huy động trong nền kinh tế.
Nguyên tắc hoàn trả phản ánh đúng bản chất quan hệ tín dụng, tính chất của tín dụng sẽ bị phá vỡ nếu nguyên tắc này không thực hiện đầy đủ. Nếu trong quá trình hoạt động kinh doanh, các khoản tín dụng mà ngân hàng đã cấp không được hoàn trả đúng hạn nhất định sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản và thu nhập của ngân hàng. Vay vốn phải có giá trị tương đương làm bảo đảm. Trong nền kinh tế thị trường các hoạt động kinh tế diễn ra hết sức đa dạng và phức tạp, vì thế mọi dự đoán về rủi ro của ngân hàng chỉ mang tính tương đối.
Trong môi trường kinh doanh như vậy, đảm bảo tín dụng được xem là một tiêu chuẩn xét duyệt cho vay nhằm bổ sung những mặt hạn chế của nhà quản trị tín dụng cũng như phòng ngừa những diễn biến không thuận lợi của môi trường kinh doanh. Giá trị đảm bảo là cơ sở cho khả năng trả nợ của khách hàng, cơ sở để hạn chế RRTD của ngân hàng. Các hình thức tín dụng của ngân hàng thương mại Theo Lê Thị Tuyết Hoa và Nguyễn Thị Nhung (2009), tín dụng của NHTM gồm các hình thức sau: 5 a. Căn cứ vào mục đích tín dụng Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng cho vay thường được chia ra các loại sau: - Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống là việc TCTD cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó.
- Cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác (sau đây gọi là hoạt động kinh doanh) là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn, bao gồm nhu cầu vốn của pháp nhân, cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân. Tín dụng cho hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế bao gồm: Cho vay bất động sản, cho vay công nghiệp và thương mại, cho vay nông nghiệp, cho vay giao thông vận tải. Việc xác định và phân loại mục đích vay, sử dụng vốn vay của khách hàng là rất quan trọng đối với ngân hàng trong việc quản lý chất lượng tín dụng cũng như RRTD.