CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU 1.1 Tổng quan về nợ xấu 1.1 Khái niệm về nợ xấu 1.1 Nợ xấu theo quan điểm thế giới Theo các sách giáo khoa tài chính: các tác giả thường đưa ra những thuật ngữ về nợ xấu như “bad debt”, “non-performing loan” NPL , “doubtful debt” hoặc là các khoản cho vay bắt đầu được đưa vào nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi vay từ 90 ngày trở lên (Peter S Rose, 2001).D (2004): Nợ xấu là những khoản nợ đã quá hạn ít nhất 90 ngày, không thu hồi được hay tái chuyển nhượng. Mặc dù các khoản nợ xấu và các tổn thất là kết quả của nhiều yếu tố nhưng về cơ bản, chúng là kết quả của sự không sẵn lòng hoàn trả nợ vay của người vay, hay không có khả năng kiếm được lợi nhuận để giảm bớt dư nợ hoặc hoàn trả toàn bộ nợ như thỏa thuận. Khó nói được ở mức không sẵn lòng chi trả nào là yếu tố làm tăng các khoản cho vay chậm trả và gây thiệt hại đối với ngân hàng. Nhiều người cho vay, kể cả một số chủ ngân hàng thương mại nhất quyết rằng, chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ những người vay không sẵn lòng chi trả các khoản nợ, một khi khoản vay được thỏa thuận.
Họ cho rằng, hầu hết các khoản cho vay có thể tin tưởng được và với ý định tốt. Mặc d điều này là đúng, vẫn có một số người vay nợ ở ngân hàng này hay ngân hàng khác đã có tiếng “chai lì” và phải thúc giục, trong một số trường hợp, buộc phải thi hành các biện pháp theo hợp đồng cho vay. Sự không sẵn lòng chi trả khác xuất phát từ cơ hội làm ăn kinh doanh của một số người vay. Trong các giai đoạn hưng thịnh, sự sẵn lòng chi trả lớn hơn so với trong các giai đoạn suy thoái.
Sự không sẵn lòng chi trả của các khoản nợ liên quan chặt chẽ với giai đoạn suy thoái kinh tế, các giai đoạn thất nghiệp và lợi tức suy giảm. Tuy nhiên, dường như lý do chủ yếu về các khoản nợ xấu và các 123doc 5 tổn thất là do người vay không có khả năng kiếm lợi từ các hoạt động kinh doanh bình thường, việc làm hay việc bán các tích sản.” Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS): không đưa ra định ngh a cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, C xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi nợ ví dụ như giải chấp chứng khoán (nếu đang nắm giữ); (ii) người đã vay quá hạn trả nợ quá 90 ngày (Basel Committee on Banking Supervision, 2002). C đặc biệt nhấn mạnh tới khái niệm “mất mát có thể xảy ra trong tương lai” expected loss khi đánh giá một khoản vay.
Theo hướng dẫn để tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính quốc gia (FSIs), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đưa ra định ngh a về nợ xấu đoạn 4. 5 “một khoản vay được coi là nợ xấu khi đã quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 0 ngày nhưng có thể nhận thấy dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ví dụ người vay phá sản). Sau khi các khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được là và gốc của khoản vay thay thế” IMF’s Compilation Guide on Finacial Soundness Indicators, 2004).2 Nợ xấu theo quan điểm Việt Nam Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến 2005 đưa ra định ngh a về các khoản tín dụng xấu bao gồm: Các khoản tín dụng dước tiêu chuẩn: Ngân hàng bộc lộ rủi ro do chất lượng bảo đảm tín dụng giảm sút hay khách hàng có biểu hiện mất khả năng chi trả. Các khoản tín dụng có vấn đề: khả năng tổn thất của ngân hàng là rất lớn.
123doc 6 Tổn thất tín dụng: bao gồm những khoản tín dụng không không thu hồi được gốc và lãi. Dựa trên những tiêu thức này, việc nhận dạng nợ xấu chủ yếu thiên về phương pháp định tính.2 Các hình thức của nợ xấu Theo quyết định 4 3/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự ph ng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng và Quyết định 1 /200 /QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 về việc sửa đổi bổ sung một số điều quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo quyết định số 4 3/2005/QĐ- NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc ngân hàng nhà nước. Nợ xấu bao gồm các khoản nợ nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5. Cụ thể các khoản nợ như sau: - Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 0 đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2; Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 1 1 đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai. - Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.3 Các tiêu chí đánh giá đó là nợ xấu Dựa trên những định ngh a về nợ xấu, theo quyết định 493/2005 và quyết định 18/2007 của Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam, nợ xấu được đánh giá theo các tiêu chí sau: - Thời hạn trả nợ: Một khoản nợ được xem là nợ xấu khi quá hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi trên 90 ngày. - Số lần cơ cấu lại thời hạn trả nợ: bao gồm các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu (trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nợ nhóm 2); các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lần thứ hai; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn. - Khả năng trả nợ của người đi vay: khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ví dụ người vay phá sản), khoản nợ sẽ được xem là nợ xấu; các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.
Trên đây là một số tiêu chí đánh giá nợ xấu tại tổ chức tín dụng, ngoài ra, khi đánh giá nợ xấu các tổ chức tín dụng cần chú ý đánh giá song song các lưu ý sau: - Toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một tổ chức tín dụng phải được phân loại vào cùng một nhóm nợ. Đối với khách hàng có từ hai khoản nợ trở lên tại tổ chức tín dụng mà có bất kỳ một khoản nợ nào bị phân loại vào nhóm nợ nào có rủi ro cao hơn các khoản nợ khác, tổ chức tín dụng phải phân loại lại các khoản nợ còn lại của khách hàng vào nhóm có rủi ro cao nhất đó. - Đối với các khoản cho vay hợp vốn, tổ chức tín dụng làm đầu mối phải thực hiện phân loại nợ đối với các khoản vay hợp vốn theo các quy định của quyết định 123doc 8 493/2005 và quyết định 18/2007 và phải thông báo kết quả phân loại nợ cho các tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn. Trường hợp khách hàng vay vốn có một hoặc một số các khoản nợ tại tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn đã phân loại vào nhóm nợ không cùng nhóm nợ của khoản nợ vay hợp vốn do tổ chức tín dụng làm đầu mối phân loại, tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân loại lại toàn bộ dư nợ (kể cả phần dư nợ cho vay hợp vốn) của khách hàng vay hợp vốn vào nhóm nợ do tổ chức tín dụng đầu mối phân loại hoặc tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân loại tùy theo nhóm nợ nào có rủi ro cao hơn.
- Đối với các khoản nợ nhóm 2, tổ chức tín dụng cần phân loại vào nợ xấu khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây: có những diễn biến bất lợi tác động tiêu cực đến môi trường, l nh vực kinh doanh của khách hàng; các khoản nợ của khách hàng bị các tổ chức tín dụng khác phân loại vào nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn nếu có thông tin); khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm; khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin tài chính theo yêu cầu của tổ chức tín dụng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng.