Chương 1. Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Chương 2. Thực trạng rủ ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam Chỉ nhánh Khánh Hòa Chương 3. Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Chi nhánh Khánh Hòa 16 CHUONG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DUNG VA HAN CHE RỦI RO TÍN DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.
HOAT DONG TIN DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Khái niệm về tín dụng ngân hang Phan Thị Thu Hà (2013) cho rằng tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định trả lại với một lượng lớn hơn.Joel Bessis (2012) cho rằng tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó Ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liên với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả.
Theo Luật các tổ chức tín dụng (2010) thì cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Một cách chung nhất, khái niệm tín dụng theo pháp luật ngân hàng Việt Nam ghi nhận rằng, tín dụng là quan hệ vay (mượn) dựa trên cơ sở tin tưởng và tín nhiệm giữa bên cho vay (mượn) và bên đi vay (mượn). Theo đó, bên cho vay chuyển giao một lượng vốn tiền tệ (hoặc tài sản) để bên vay sử dụng có thời hạn. Khi đến hạn, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả vốn (tài sản) ban đầu và lãi suất.
Phân loại tín dụng ngân hàng Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại tín dụng ngân hàng như: 17 mục đích vay, thời hạn vay, mức độ tín nhiệm của khách hàng. Có thể phân loại tín dụng theo các tiêu chí chính như sau: Dựa vào thời hạn có thể phân thành các loại sau: Tín dụng ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 1 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm hỗ trợ cho việc bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động cho các cá nhân và doanh nghiệp. Tín dụng trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 2 đến 5 năm.
Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh. Tín dụng dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích của loại vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư xây dựng cơ bản như nhà xưởng, sân bay, cầu, đường, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn, các dự án có thời gian hoàn vốn dài. Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau: Tín dụng không có bảo đảm: Là việc cấp tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay.
Đối tượng cấp tín dụng của hình thức tín dụng này thường là những khách hàng có uy tín, làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính lành mạnh hoặc giá trị món vay tương đối nhỏ so với lượng vốn chủ sở hữu của bên đi vay. Ngoài ra cũng có các khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu, không cần tài sản đảm bảo. Các khoản cho vay đối với các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn hoặc những khoản cho vay trong thời gian ngắn mà ngân hàng có khả năng giám sát việc bán hàng,.cũng có thể không cần tài sản đảm bảo. Tín dụng có bảo đảm: Là việc cấp tín dụng dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác.
Cam kết đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài sản của mình đang sở hữu hoặc sử dụng, hoặc khả năng trả nợ của người thứ ba để trả nợ cho ngân hàng. 18 Dựa vào hình thức tài trợ, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại nghiệp vụ sau: Cho vay: là việc ngân hàng đưa 1 khoản tiền cho khách hàng sử dụng với cam kết là khách hàng phải hoàn trả cả gốc cộng thêm một phần lãi trong khoảng thời gian nhất định. Đây là nghiệp vụ chiếm tỉ trọng rất lớn trong hoạt động tín dụng. Chiết khấu giấy tờ có giá: là việc ngân hàng ứng trước tiên cho khách hàng một số tiên dựa trên giá trị của giấy tờ có giá trừ đi một khoản phí (phí chiết khấu và phí dịch vụ) và ngân hàng sẽ là bên nắm giữ giấy tờ có giá này sau khi thực hiện chiết khấu cho khách hàng.
Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung hạn và dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê (ngân hàng) với khách hàng thuê. Ngân hàng sẽ mua sắm tài sản cho khách hàng thuê và sau khi hết thời hạn cho thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện thỏa thuận trong hợp đồng. Bảo lãnh: là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ trả nợ hộ khách hàng của mình trong trường hợp khách hàng không thực hiện các nghĩa vụ tài chính này. Bản chất là ngân hàng không phải xuất tiền ra ngay tại thời điểm bảo lãnh mà cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để kinh doanh sản xuất.
Tuy nhiên, nếu sự kiện bảo lãnh xảy ra, khách hàng sẽ phải nhận nợ của ngân hàng và phải hoàn trả số tiền đã được ngân hàng trả thay. Đặc điểm của tín dụng Ngân hàng Từ các định nghĩa của Luật các tổ chức tín dụng (2010) về Cấp tín dụng và Ngân hàng thương mại, có thể rút ra một số đặc điểm cần lưu ý về tín dụng ngân hàng như sau: Thứ nhất, giao dịch tín dụng được thực hiện trên cơ sở tin tưởng giữa hai bên khách hàng và ngân hàng. Trong đó, khách hàng tin tưởng ngân hàng về khả năng cung cấp dịch vụ và thực hiện những cam kết đối với khách hàng còn ngân hàng tin tưởng ở khả năng hoàn trả cũng như tính sẵn lòng hoàn trả của khách hàng. Thứ hai, giao dịch được thực hiện trên cơ sở chuyển giao tài sản từ phía ngân hàng cho khách hàng.
Ngân hàng cấp tín dụng thực chất là tài trợ 19 vốn cho khách hàng mà vốn là khái niệm mang tính vô hình, do đó nó phải được biểu hiện dưới một hình thái hữu hình như: tiền, máy móc, thiết bị, hàng hóa,.nhưng chủ yếu là dưới hình thái tiền. Rủi ro tín dụng có thể xảy ra trong quá trình lưu chuyển vốn. Cụ thể là vốn được chuyển từ ngân hàng tới tay khách hàng dưới hình thái tiền tệ (là chủ yếu), sau đó tùy theo mục đích sử dụng của mình mà khách hàng tiếp tục chuyển hóa hình thái tiên tệ đó sang các hình thái khác.cuối cùng nó lại quay về hình thái tiền tệ để hoàn trả ngân hàng. Trong dòng lưu chuyển đó, rủi ro có thể xảy ra ở bất kỳ khâu nào và điều cần lưu ý ở đây là rủi ro đó sẽ xảy ra đối với khách hàng trước rồi mới đến ngân hàng.
Bởi vậy, để hạn chế được rủi ro thì ngân hàng phải kiểm soát khách hàng từ việc khách hàng đã chuyển hóa đồng vốn vay như thế nào. Thứ ba, giá trị hoàn trả của khách hàng phải lớn hơn giá trị ban đầu. Đến kỳ đáo hạn, khách hàng phải hoàn trả khoản vay cho ngân hàng bao gồm khoản vay gốc và một khoản lãi vay. Khoản lãi vay này dùng để trang trải các chi phí mà ngân hàng bỏ ra (như chi phí huy động vốn, chỉ phí các hoạt động.) và để ngân hàng có lợi nhuận.
Việc tính toán lãi của khoản vay liên quan đến vấn đề lãi suất và rủi ro lãi suất cũng nằm trong hệ thống rủi ro kinh doanh mà ngân hàng phải đối mặt, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này thì rủi ro lãi suất sẽ không được đề cập đến. Thứ tư, khách hàng cam kết sẽ hoàn trả khoản vay cho ngân hàng đúng hạn. Đặc điểm này hết sức quan trọng trong quá trình nghiên cứu rủi ro tín dụng vì những lý do sau: Trước hết, khoản tiền mà ngân hàng cho vay không thuộc sở hữu của ngân hàng vì ngân hàng là một đơn vị trung gian tài chính thực hiện kinh doanh tiền tệ trong đó chủ yếu là nhận tiền gửi. Hoạt động kinh doanh tiền gửi này có một quy tắc là khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với bất kỳ thời hạn nào thì ngân hàng không có quyên từ chối nếu khách hàng đó muồn rút tiên trước thời hạn, ngược lại khi ngân hàng cho vay một khách hàng nào đó thì dù có bất kỳ lý do gì cũng không được phép đòi khách hàng đó thanh toán nếu chưa đến hạn.
Bởi vậy, việc các khoản vay được thanh toán đúng hạn có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo khả nảng thanh khoản của ngân hàng. Vai trò của tín dụng Ngân hàng 20 Tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa cung và cầu về vốn trong nền kinh tế.