CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 1. Tổng Quan Về Dịch Vụ Thẻ Tại Các Ngân Hàng Thương Mại 1. Lịch Sử Hình Thành Và Phát Triển Của Dịch Vụ Thẻ 1. Sự Ra Đời Dịch Vụ Thẻ Của Ngân Hàng Thương Mại Khoa học kỹ thuật trên thế giới nói chung và trong lĩnh vực tài chính ngân hàng nói riêng luôn không ngừng đổi mới và phát triển.
Một trong các phát minh quan trọng tạo nên cuộc cách mạng trong ngành ngân hàng và sự bùng nổ trong ngành công nghiệp bán lẻ là sự ra đời của thẻ ngân hàng. Thẻ ngân hàng được cho là xuất hiện lần đầu tiên tại Mỹ năm 1914 dưới tên tạm gọi là “đĩa mua hàng”. Khi đó, các đại lý bán lẻ cung cấp cho khách hàng một loại “đĩa” để có thể mua hàng trước tại đại lý cung cấp thẻ và thanh toán sau theo định kỳ hàng tháng. Về bản chất, hình thức này được coi là các đại lý đã cấp cho khách hàng một khoản tín dụng để mua hàng trước, trả tiền sau.
Loại thẻ này đã có tác dụng lớn trong việc khuyến khích khách hàng sử dụng sản phẩm của đại lý [1]. Tuy nhiên, đến năm 1930, dưới ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, các hình thức bán chịu của đại lý trở nên phổ biến đòi hỏi phải có một phương thức thanh toán linh hoạt hơn để có thể thanh toán tại tất cả các điểm bán hàng. Với vai trò là trung gian thanh toán của nền kinh tế, các ngân hàng đã bắt đầu nghiên cứu phương thức giải quyết nhu cầu thanh toán trên với sự xuất hiện dạng đầu tiên của thẻ ngân hàng năm 1946 do ngân hàng phát hành là thẻ Charge-it của ngân hàng John Biggins (Mỹ). Thẻ này cho phép khách hàng sử dụng cổ phiếu do ngân hàng phát hành để thanh toán cho các đại lý, sau đó, các đại lý nộp cổ phiếu cho ngân hàng, ngân hàng trả tiền cho đại lý và thu tiền từ khách hàng.
Nối tiếp hình thức thẻ Charg-it, năm 1950, Frank Mc Namara, một doanh nhân người Mỹ đã cho ra đời loại thẻ nhựa đầu tiên với tên gọi Dinners Club. Thẻ này có thể ghi nợ khi ăn tại 27 nhà hàng tại New York (các nhà hàng phải chịu mức 7 chiết khấu 5%) và chủ sở hữu thẻ phải trả mức phí 5 USD/năm. Loại thẻ này đã thu hút đông đảo người dân và đại lý sử dụng và một cuộc cách mạng về thẻ diễn ra ngay sau đó đã đưa thẻ trở thành một phương tiện mang tính toàn cầu [4]. Như vậy, có thể thấy dịch vụ thẻ ngân hàng tuy là một hình thức kinh doanh mới nhưng đã có lịch sử ra đời từ cách đây rất lâu.
Sự phát triển của dịch vụ thẻ Tại Mỹ, nhận thức được nguồn doanh thu và hiệu quả hoạt động của phương thức thanh toán qua thẻ, ngày càng có nhiều TCTD tham gia phát hành và triển khai dịch vụ thẻ. Giai đoạn 1955-1960, các ngân hàng triển khai đồng loạt nhiều thẻ mới như Trip Charge, Golden Key, Goutmet Club, American Express… và dần phát sinh nhu cầu mở rộng phạm vi thanh toán trên phạm vi toàn cầu. Trong bối cảnh đó, hai ngân hàng là InterBank và Bank of American đã xây dựng hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn trong xử lý, thanh toán thẻ toàn cầu và Bank of America cho ra mắt thẻ Bank Americard, dạng sơ khai của thẻ Visa. Năm 1977, Bank of America trở thành Visa USD và sau đó trở thành tổ chức thẻ quốc tế VISA - không trực tiếp phát hành thẻ mà giao lại cho các thành viên khiến cho Visa có thể mở rộng thị trường và đến nay có quy mô lớn nhất thế giới với trên 22.000 thành viên ở 200 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Năm 1979, InterBank cũng trở thành một tổ chức thẻ quốc tế lớn khác là Mastercard. Hiện nay, 2 tổ chức này vẫn đang là 2 tổ chức thẻ lớn mạnh và phát triển trên thế giới [5]. Dịch vụ thẻ nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi ở các châu lục khác ngoài Mỹ. Tại châu Á, năm 1960, Nhật Bản phát hành thẻ nhựa đầu tiên tại châu lục này Tại châu Âu, năm 1966, ngân hàng Barcaly Bank cũng đã phát hành thẻ nhựa đầu tiên tại châu Âu.
Ngày nay, thẻ ngân hàng đã có mặt ở khắp nơi trên thế giới với những hình thức và chủng loại đa dạng, đáp ứng đầy đủ những nhu cầu riêng lẻ của người tiêu dùng và được xem như công cụ văn minh, tiện lợi trong giao dịch. Khái Niệm Và Hình Thức Của Thẻ Khái niệm về thẻ là khái niệm rộng và có nhiều cách hiểu khác nhau. 8 Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng thanh toán hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống máy giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM [4].
Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận [9]. Như vậy, có thể hiểu, thẻ ngân hàng là một loại phương tiện thanh toán do ngân hàng hoặc một số công ty tài chính phát hành sử dụng với mục đích thực hiện các giao dịch ngân hàng như thanh toán, chuyển tiền, rút tiền hoặc một số giao dịch khác mà không cần tới ngân hàng. Đây là một hình thức của phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Chủ thẻ ngân hàng thực hiện giao dịch ngân hàng trong phạm vi số dư tiền gửi tại tài khoản thanh toán liên kết thẻ hoặc hạn mức tín dụng do ngân hàng cấp.
Từ khi bắt đầu xuất hiện loại hình thẻ ngân hàng sơ khai đến nay, thẻ ngân hàng đã có sự thay đổi đáng kể về nội dung và hình thức để phù hợp với nhu cầu khách hàng và xu hướng công nghệ. Về hình thức và cấu tạo, thẻ ngân hàng có thiết kế là một miếng nhựa (plastic) hình chữ nhật có kích cỡ tiêu chuẩn, thường là 8,5x5,5cm. Những thông tin chủ yếu có ở mặt trước và mặt sau thẻ ngân hàng gồm: Mặt trước thẻ: Tên và logo của TCPHT, tên gọi loại thẻ, hạng thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực của thẻ, tên chủ thẻ, chip thẻ. Trong đó, số thẻ gồm 16 số được in rõ ràng, cách đều nhau, chia thành 4 nhóm cách biệt, không mờ nhật hoặc có dấu vết của thẻ bị in nổi lại; họ và tên chủ thẻ được dập nổi (nếu là tên tiếng Việt sẽ không có dấu).
Mặt sau thẻ: Logo tổ chức chuyển mạch thẻ trong nước, chữ ký của chủ thẻ dải băng từ chứa các thông tin đã được mã hóa như mã số bí mật, hạn mức tín dụng… Dải băng từ này có 2 hoặc 3 rãnh được đọc bởi các thiết bị chuyên dùng 9 như POS (Point of sale), Veri phone. rãnh thứ ba được sử dụng cho máy ATM để khách hàng rút tiền mặt qua PIN. Ngoài ra, trên thẻ còn có một số thông tin hữu ích như số điện thoại chăm sóc khách hàng, website của tổ chức phát hành thẻ để chủ thẻ có thể liên hệ trong các trường hợp cần thiết và tùy từng ngân hàng, TCPHT có thể thêm một số yếu tố khác như ảnh chủ thẻ, ký hiệu riêng của từng tổ chức (để đảm bảo tính an toàn)… Bên cạnh đó, trên thế giới hiện nay đã xuất hiện loại thẻ phi vật lý (thẻ ảo) mà tổ chức phát hành thẻ cấp cho chủ thẻ để giao dịch qua internet, điện thoại di động hoặc các thiết bị chấp nhận thẻ điện tử khác mà không cần in ra thẻ vật lý (thẻ nhựa thông thường). Phân Loại Thẻ 1.
Phân Loại Theo Phạm Vi Sử Dụng Thẻ Theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ, thẻ ngân hàng gồm 2 loại sau: Thứ nhất, thẻ nội địa: Là loại thẻ ngân hàng được sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và sử dụng các dịch vụ khác trong nước. Thứ hai, thẻ quốc tế: Là loại thẻ ngân hàng được sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và sử dụng các dịch vụ ở cả trong nước và ở nước ngoài. Các thương hiệu thẻ quốc tế được lưu hành phổ biến hiện nay là Visa, MasterCard, JCB, American Express, UP. Khi có nhu cầu thanh toán trong các chuyến công tác, du lịch hoặc phục vụ cho học tập, mua sắm ở nước ngoài thì thẻ quốc tế là một lựa chọn tiện dụng và hiệu quả cho khách hàng.
Việc phân loại thành thẻ nội địa và thẻ quốc tế là dựa trên phạm vi chủ thẻ có thể sử dụng thẻ, còn về mặt tính năng thì cả thẻ nội địa hay thẻ quốc tế đều có thể là thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng hoặc thẻ trả trước. Hiện nay, thông qua kết nối của tổ chức chuyển mạch thẻ trong nước và quốc tế, thẻ nội địa của một số ngân hàng cũng có thể sử dụng để giao dịch tại ATM và các điểm chấp nhận thẻ ở một số nước khác. Phân Loại Theo Nguồn Tài Chính Đảm Bảo Cho Việc Sử Dụng Thẻ Theo theo nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ, thẻ ngân hàng gồm 3 loại sau: 10 Thứ nhất, thẻ ghi nợ (debit card): Là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền có thể sử dụng trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và khách hàng không được cấp hạn mức tín dụng [9]. Chiếc thẻ loại này ban đầu được biết đến là thẻ rút tiền mặt từ tài khoản thanh toán của chủ thẻ tại các máy ATM.
Do đó, thẻ này còn được gọi là thẻ ATM. Chủ thẻ không phải tới ngân hàng mà có thể thực hiện việc rút tiền mặt vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày, ngay cả ngoài giờ làm việc, trong các ngày nghỉ, lễ, tết. Theo sự phát triển của công nghệ, đến nay, các tính năng của thẻ ghi nợ đã được đang dạng hóa, tích hợp đầy đủ các tiện ích rút tiền, kiểm tra số dư, chuyển khoản, mua hàng hoá tại siêu thị hoặc thanh toán hoá đơn tại các nhà hàng; đặc biệt có thể sử dụng trong thanh toán các giao dịch trực tuyến trên internet (đặt mua vé máy bay, mua hàng trên các trang thương mại điện tử…) với thao tác thực hiện đơn giản, thuận tiện.