CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE CƠ BAN VE QUAN LÝ RỦI RO TIN DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.1 Rui ro tin dụng của ngân hang thương mại 1. Dinh nghia Rui ro trong NHTM mang tinh chất ngẫu nhiên va có thé đo lường được. Rui ro ảnh hưởng trực tiếp lên lợi nhuận thực tế của của NHTM, mức độ biến động giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận dự kiến phản ánh mức độ rủi ro của NHTM. Trong hoạt động NHTM, RRTD là loại rủi ro đặc thù vì khác với các doanh nghiệp nói chung, cấp tín dụng là hoạt động chính của NHTM, đồng thời, RRTD xảy ra thường xuyên và có mức độ ảnh hưởng hết sức đáng kể đến hoạt động NHTM (Rose, 2013).
Phan Thị Thu Hà (2016) cho rằng: RRTD hiểu một cách thông thường là loại rủi ro phát sinh trong quá trình NHTM cấp tín dụng cho khách hàng, biểu hiện bằng việc khách hàng vay không trả hoặc không trả đúng hạn, không trả đầy đủ tiền lãi hoặc tiền gốc theo các điều kiện và cam kết trong hợp đồng tin dụng. Có thé thấy rằng RRTD có mối liên hệ mật thiết với những nguyên tắc của tín dụng ngân hàng đặc biệt là nguyên tắc về tinh thời hạn và hoan trả. RRTD không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như: bảo lãnh, tài trợ thương mại, tham gia thị trường liên ngân hàng, những chứng khoán có giá (trái phiếu, cổ phiếu), trái quyền, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ. Tuy nhiên, phạm vi của luận văn này chủ yếu đề cập đến RRTD trong việc cho vay khách hàng.
Một khái niệm được công nhận một cách rộng rãi, Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng định nghĩa (Basel, 2008): “RRTD được hiểu là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho đù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn”. Trên khía cạnh pháp lý, tại Việt Nam, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (2013) thì: “RRTD (trong hoạt động ngân hàng) là khả năng xảy ra tồn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Trong luận văn này, tác giả sử dung quan điểm của Ngân hàng Nhà nước dé đánh giá các khía cạnh khác nhau của RRTD. Phân loại Có nhiều cách thức khác nhau đề phân loại rủi ro tín dụng, nhưng về cơ bản thì có các cách phân loại như sau 1.
Căn cứ vào nguyên nhân rủi ro a. RRTD do nguyên nhân khách quan Xuất phát từ nguyên nhân khách quan của môi trường kinh doanh: - Nguyên nhân bat kha kháng: thiên tai, bão lụt, han hán,. - Nguyên nhân từ môi trường kinh tế: do ảnh hưởng chu kỳ kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá. Môi trường kinh tế ảnh hưởng lớn đến môi trường kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.
Trong thời kỳ suy thoái, khủng hoảng, tỷ lệ nợ xâu của các ngân hàng thường tăng cao. - Nguyên nhân từ chính sách của Nhà nước: chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư, chính sách thuế, chính sách kinh tế đối ngoại. Nếu chính sách thay đổi thường xuyên hoặc đột ngột, doanh nghiệp sẽ gặp nguy cơ rủi ro cao. RRTD do nguyên nhân chủ quan Xuất phát từ nguyên nhân chủ quan trong hoạt động của NHTM và khách hàng: - RRTD từ phía người vay: Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra RRTD cho NHTM và có thê được xác định được thông qua quá trình tìm hiéu, phân tích trước, trong và sau khi cho vay, tìm hiểu mục đích của việc sử dụng tiền vay và hiệu quả của phương án, dự án kinh doanh.
Có thê có các loại: + Nguyên nhân từ tình hình hoạt động của khách hàng: RRTD xuất hiện khi NHTM cấp tín dụng cho người vay có tình hình sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, tình hình tài chính yêu kém. + Nguyên nhân từ kết quả kinh doanh của khách hàng: RRTD xảy ra nếu việc xây dựng và triển khai các phương án, dự án của người vay thiếu khoa học, dự toán chi phí và xác định mức sản lượng không phù hợp. Các thiệt hại phải gánh chịu do biến động của thị trường cung cấp, thị trường tiêu thụ. + Nguyên nhân có tính lừa đảo, chiếm đoạt của khách hàng: Người vay cố ý sử đụng vốn vay sai mục đích, chây ỳ chậm trả hoặc chiếm đoạt vốn của NHTM.
- RRTD từ phía NHTM: + Chính sách tín dụng không hợp lý, không cân bằng được quy mô tín dụng với khả năng quản lý, mục tiêu tăng trưởng quá cao hoặc sự cạnh tranh giữa các NHTM. + Cán bộ tín dụng không tuân thủ chính sách tín dụng, không chấp hành đúng quy trình cho vay, vi phạm đạo đức kinh doanh. + Khi cấp tín dụng, không thâm định đúng nhu cầu vốn, không có bảo đảm tín dụng hoặc không đây đủ pháp lý cân thiệt, định giá tài sản dam bảo (TSBD) không đúng,. Căn cứ vào tính tổng thể của rủi ro a.
Rủi ro giao dịch Rui ro phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dich và xét duyệt cho vay, đánh giá người vay. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận là: - Rủi ro lựa chọn xảy ra trong quá trình đánh giá và phân tích tín dụng để NHTM quyết định lựa chọn những phương án vay vốn hiệu quả. - Rui ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đông cho vay, các loại TSBĐ, chủ thê đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của TSBĐ. - Rủi ro nghiệp vụ xảy ra trong công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gôm cả việc sử dụng hệ thông xêp hạng và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
Rủi ro danh mục Rui ro phát sinh là do những hạn chế trong quan lý danh mục cho vay của NHTM, có hai bộ phận là: - Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của người vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. - Rủi ro tập trung: xuất phát từ việc tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một sô người vay hoạt động cùng ngành, lĩnh vực kinh tê, cùng một vùng địa lý nhất định. Căn cứ vào thời điểm phát sinh a. Rủi ro trước khi cho vay Rủi ro xảy ra khi NHTM phân tích đánh giá sai về người vay dẫn đến cấp tín dụng cho người vay không đủ điêu kiện đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai.
Rủi ro khi cho vay Rủi ro này xảy ra trong quy trình cấp tín dụng. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro này bao gồm: (i) việc giải ngân không đúng tiến độ (ii) không cập nhật thông tin khách hàng thường xuyên và (iii) không dự báo được rủi ro tiềm năng. Rủi ro sau khi cho vay Rủi ro này xảy ra khi mà CBTD không nắm được tình hình sử dụng vốn vay, khả năng tài chính tương lai của người vay. Ảnh hưởng của RRTD lên hoạt động ngân hàng thương mại 1.
Nguy cơ nợ quá hạn và nợ xấu Một trong những tác động chủ yếu của RRTD là gây ra nguy cơ tạo thành khoản nợ quá hạn. Nợ quá hạn là một phần hoặc toàn bộ khoản nợ gốc/lãi mà người vay không có khả năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn cho NHTM theo đúng cam kết. Theo quy định của thông tư 02/2013/TT-NHNN thì: “Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn”. Tình trạng nghiêm trọng của nợ quá hạn là nợ xấu.
Nợ xấu theo quan điểm của nhiều NHTM được dùng để chỉ những khoản cho vay không hoạt động hay không có khả năng sinh lời. Các định chế tài chính lớn đều đưa ra định nghĩa về nợ x4u dựa trên cách tiếp cận về kết qua thu hồi nợ như của Ngân hang Trung ương Châu Âu (ECB), hay kết hợp giữa kết quả thu hồi nợ và thời gian quá hạn trả nợ như của Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF). Cu thé IMF định nghĩa: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cau hay gia han ng, hoac các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có cácnguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”. Quy định về nợ xấu được các NHTM Việt Nam áp dụng theo thông tư 02/2013/TT-NHNN: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mắt vốn)” và quy định cụ thể về cách phân loại nợ theo phương pháp định lượng như sau: a.
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Các khoản nợ trong hạn hoặc nợ quá hạn dưới 10 ngày. Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày hoặc được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu. Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): - Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày, - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, ngoài trường hợp đã phân loại vào nhóm 2, - Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do không đủ khả năng trả lãi đầy đủ. Nhóm 4 (Nợ nghĩ ngò): - Các khoản nợ quá han từ 181 ngày đến 360 ngày, - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu, - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mat vốn): - Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ câu lại lần thứ hai, - Các khoản nợ cơ cau lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, ké cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; - Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý. Hoạt động kinh doanh và lợi nhuận RRTD ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và lợi nhuận của các NHTM.