Giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Luận văn tài chính ngân hàng giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại cổ phần, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Học viện Tài chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020

72
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại

1.2. Tổng quan về Ngân hàng Thương mại

1.3. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại

1.4. Hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng Thương mại

1.5. Phòng ngừa và xử lý nợ xấu

1.6. Nợ xấu của Ngân hàng Thương mại

1.7. Xử lý nợ xấu

1.8. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phòng ngừa, xử lý nợ xấu

2. THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐÔ THÀNH

2.1. Khái quát về tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đô Thành

2.2. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đô Thành

2.3. Thực trạng công tác phòng ngừa, xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Đô Thành

2.4. Thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Đô Thành

2.5. Thực trạng phòng ngừa, xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Đô Thành

2.6. Đánh giá công tác phòng ngừa, xử lý nợ xấu tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Đô Thành – Hà Nội

2.7. Những kết quả đã đạt được

2.8. Những mặt còn hạn chế và nguyên nhân

3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XỬ LÝ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐÔ THÀNH

3.1. Định hướng hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Ngân hàng Công thương Đô Thành – Hà Nội năm 2020

3.2. Một số giải pháp với công tác phòng ngừa và xử lý nợ xấu tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Đô Thành – Hà Nội

3.3. Thành lập ban kiểm soát nội bộ và phòng quản lý rủi ro kiêm nhiệm xử lý nợ xấu

3.4. Thực hiện các chính sách khuyến khích với cán bộ nhân viên nói chung, với cán bộ tín dụng nói riêng

3.5. Tăng cường đôn đốc xử lý, thu hồi đối với từng khoản nợ xấu

3.6. Một số kiến nghị

3.7. Kiến nghị với Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam

3.8. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước

DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nợ xấu và tầm quan trọng của việc phòng ngừa

Nợ xấu, được định nghĩa là các khoản nợ không có khả năng thanh toán, đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Việc phòng ngừa nợ xấu không chỉ giúp bảo vệ lợi ích của ngân hàng mà còn đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế. Theo các chuyên gia, việc xử lý nợ xấu hiệu quả là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt. "Nợ xấu không chỉ ảnh hưởng đến ngân hàng mà còn tác động đến toàn bộ nền kinh tế". Do đó, việc nhận diện và quản lý rủi ro nợ xấu là rất cần thiết.

1.1. Khái niệm và phân loại nợ xấu

Nợ xấu được chia thành nhiều loại, trong đó nợ nhóm 3, 4 và 5 được coi là nợ xấu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Nợ nhóm 3 là các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày, nợ nhóm 4 là các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày, và nợ nhóm 5 là các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày. Việc phân loại nợ xấu giúp ngân hàng có cái nhìn tổng thể về tình hình tài chính và đưa ra các biện pháp xử lý nợ xấu phù hợp. "Phân loại chính xác nợ xấu là bước đầu tiên trong việc xây dựng chiến lược quản lý rủi ro".

II. Thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Đô Thành

Tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Đô Thành, nợ xấu đã tăng lên đáng kể trong những năm qua. Thực trạng này không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng mà còn gây áp lực lên khả năng thanh khoản của ngân hàng. Theo báo cáo tài chính, tỷ lệ nợ xấu đã vượt mức cho phép, cho thấy sự cần thiết phải có những giải pháp phòng ngừa nợ xấu hiệu quả. "Tình hình nợ xấu tại ngân hàng cần được cải thiện để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững".

2.1. Đánh giá công tác phòng ngừa nợ xấu

Công tác phòng ngừa nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Đô Thành đã được thực hiện thông qua nhiều biện pháp như tăng cường kiểm tra tín dụng, đánh giá khách hàng và xây dựng các chính sách tín dụng chặt chẽ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế trong việc áp dụng các biện pháp này. "Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng việc kiểm soát nợ xấu vẫn chưa đạt hiệu quả như mong muốn".

III. Giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu

Để giảm thiểu nợ xấu, ngân hàng cần thực hiện một số giải pháp cụ thể như thành lập ban kiểm soát nội bộ và phòng quản lý rủi ro. Việc này giúp nâng cao khả năng phát hiện sớm các khoản nợ có nguy cơ. Đồng thời, ngân hàng cũng nên thực hiện các chính sách khuyến khích cán bộ nhân viên trong việc thu hồi nợ. "Giải pháp toàn diện sẽ giúp ngân hàng không chỉ xử lý nợ xấu mà còn nâng cao uy tín và tín dụng trong mắt khách hàng".

3.1. Tăng cường quản lý rủi ro

Quản lý rủi ro là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa nợ xấu. Ngân hàng cần xây dựng một hệ thống quản lý rủi ro hiệu quả, bao gồm việc phân tích và đánh giá các yếu tố rủi ro có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của khách hàng. "Một hệ thống quản lý rủi ro tốt sẽ giúp ngân hàng phát hiện sớm các dấu hiệu của nợ xấu, từ đó có những biện pháp xử lý kịp thời".

10/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại 1. Tổng quan về Ngân hàng Thương mại  Khái niệm: NHTM là trung gian tài chính có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về NHTM, tuy nhiên phần lớn các khái niệm đều tiếp cận trên phương diện chức năng hay các loại hình dịch vụ mà NHTM cung cấp. Rose, “NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất (đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán) và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [Peter S.7] Theo điều 4, Luật các tổ chức tín dụng 2010, “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” trong đó hoạt động ngân hàng được hiểu lầ việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.

Như vậy, NHTM là trung gian tài chính thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi từ những người thừa vốn và phân phối hợp lý tới những người có nhu cầu về vốn. Hoạt động của NHTM nhằm mục đích kinh doanh một thứ hàng hoá đặc biệt là tiền, trả lãi suất chính là lợi nhuận của ngân hàng. Trong nền kinh SV: Phạm Thị Hòa Yên 4 Lớp: CQ54/15.07 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Tài chính tế thị trường, hệ thống NHTM được ví như hệ thống tuần hoàn của nền kinh tế. Hệ thống NHTM giúp các dòng vốn được phân phối sử dụng hiệu quả, kích thích tăng trưởng kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền và tạo công ăn việc làm cho xã hội.

 Vai trò của NHTM trong nền kinh tế: - Ngân hàng là nơi tập trung tiền nhàn rỗi và cung cấp vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh. Khi có tiền nhàn rỗi hoặc tích luỹ (do người dân không có khả năng đầu tư tiền để sinh lời) thì họ thường gửi vào Ngân hàng bởi Ngân hàng không chỉ đảm bảo cho các khoản tiền gửi và cung cấp cho khách hàng các dịch vụ thanh toán tiện lợi mà người gửi tiền còn thu được lợi từ vốn tạm thời nhàn rỗi của mình thông qua khoản lãi tiền gửi. Hay nói cách khác, Ngân hàng huy động tiền nhàn rỗi và tiền tích luỹ dưới dạng tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, không kỳ hạn, kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chi tiền gửi. Ngược lại khi thiếu vốn kinh doanh thì nơi mà các doanh nghiệp tìm đến cũng là Ngân hàng.

Bởi doanh nghiệp sẽ tránh được tình trạng thông tin không cân xứng và có đủ nguồn vốn cần thiết cho quá trình sản xuất của mình. Như vậy NHTM là nơi cung ứng vốn cho quá trình tái sản xuất mở rộng của các doanh nghiệp. - Ngân hàng là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật khách quan như: Quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… để có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị phần kinh doanh… doanh nghiệp cần phải SV: Phạm Thị Hòa Yên 5 Lớp: CQ54/15.07 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Tài chính không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, mở rộng nhà xưởng, đào tạo công nhân… mà những hoạt động này đòi hỏi phải có khối lượng lớn vốn đầu tư. Nếu doanh nghiệp tự đi vay thì phải đi vay nhiều chỗ mới có đủ số vốn cần thiết.

Hơn nữa chi phí cho mỗi lần vay lại cao. Do đó, để giải quyết khó khăn này doanh nghiệp có thể tìm đến Ngân hàng xin vay vốn nhằm thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình. Nguồn vốn mà Ngân hàng cung ứng sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, tạo thế đứng cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Như vậy, thông qua hoạt động tín dụng, Ngân hàng là chiếc cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường.

- NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, NHTM hoạt động một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của mình sẽ thực sự là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước điều tiết hoạt động của các NHTM thông qua những công cụ điều hành chính sách tiền tệ như công cụ lãi suất, công cụ dự trữ bắt buộc… mà làm tăng hay giảm việc tăng trưởng tín dụng, tăng lượng tiền cung ứng vào lưu thông khi cần điều tiết nền kinh tế vĩ mô. - NHTM góp phần thu hút vốn, mở rộng đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh, là tiền tiết kiệm của dân chúng và là vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm duy trì tiềm lực có sẵn và tạo ra tiềm lực mới. SV: Phạm Thị Hòa Yên 6 Lớp: CQ54/15.07 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Tài chính Vốn đầu tư bao gồm vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài.

Khi NHTM làm trung gian tài chính, Ngân hàng gom vốn của những người tiết kiệm để cho các nhà đầu tư vay vì các khoản tiết kiệm thường nhỏ lẻ mà nhu cầu vốn để thực hiện đầu tư lại cao. Như vậy, các nhà đầu tư hoàn toàn có đủ vốn để tiến hành đầu tư tại thị trường tiềm năng đối với họ. Hay đối với các dự án lớn của Chính phủ, Ngân hàng được sự uỷ quyền của Chính phủ để có thể vay tiền của Chính phủ các nước về tài trợ cho các dự án đầu tư. Ngân hàng được Chính phủ uỷ quyền cho sử dụng nguồn vốn ODA để cho vay đối với các dự án nằm trong kế hoạch, hoặc Ngân hàng có thể thực hiện bảo lãnh phát hành chứng khoán cho các công ty khi phát hành chứng khoán ra nước ngoài.2 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại  Khái niệm: Khái niệm tín dụng đã xuất hiện từ rất lâu, nó xuất phát từ gốc Latinh CREDITUM có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm hay chính là lòng tin.

Theo cách biểu hiện này thì tín dụng là quan hệ vay vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn đó sẽ được hoàn trả vào một thời điểm xác định trong tương lai. Mác cho rằng: “Tín dụng là quá trình chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng, sau một thời gian nhất định thu hồi một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu”. Có thể hiểu tổng quát về khái niệm tín dụng: Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng sau SV: Phạm Thị Hòa Yên 7 Lớp: CQ54/15.07 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Tài chính một thời gian nhất định tthu hồi về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Mối quan hệ tín dụng bao gồm 2 mặt cơ bản là quan hệ cho vay và quan hệ hoàn trả được thể hiện như sau: - Người vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định.

Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản,… - Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một khoảng thời gian nhất định, khi hết thời gian sử dụng theo thoả thuận người đi vay phải trả cho người cho vay. Thông thường, giá trị khi hoàn trả lớn hơn giá trị cho vay, nói cách khác người đi vay phải trả thêm một phần lợi tức.  Hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng Thương mại: là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.  Các hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Thương mại: Khi nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trường, hoạt động của NHTM cũng giống như các doanh nghiệp khác đều chịu tác động của các quy luật kinh tế.

Điều này đòi hỏi các sản phẩm mà Ngân hàng cung ứng ra thị trường phải ngày càng đa dạng và phong phú, phù hợp với nhu cầu của khách hàng nhưng vẫn phải đảm bảo được yêu cầu an toàn. Chính vì vậy, cần tiến hành phân loại tín dụng để có thể sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả. SV: Phạm Thị Hòa Yên 8 Lớp: CQ54/15.07 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Tài chính - Căn cứ vào thời hạn, tín dụng thông thường phân thành: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn. + Tín dụng ngắn hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn không quá 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.

+ Tín dụng trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm. Tín dụng trung hạn thường được để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, xây dựng các dự án quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Trong nông nghiệp, chủ yếu cho vay là để đầu tư vào các đối tượng xây dựng các vườn cây công nghiệp… + Tín dụng dài hạn: Là các khoản cho vay thời hạn trên 5 năm. Mục đích sử dụng vốn vay gần như tín dụng trung hạn nhưng với quy mô lớn, thời hạn thu hồi vốn lâu hơn.

- Căn cứ vào mục đích cho vay có: + Tín dụng bất động sản: Là loại tín dụng có liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam" của tác giả Phạm Thị Hòa Yên, dưới sự hướng dẫn của Lã Thị Lâm tại Học viện Tài chính, năm 2020, cung cấp cái nhìn sâu sắc về các giải pháp nhằm phòng ngừa và xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng. Bài viết phân tích nguyên nhân gây ra nợ xấu và đề xuất những phương án cụ thể để cải thiện tình hình tài chính tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Đô Thành. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức quản lý rủi ro tín dụng và các chiến lược tài chính hiệu quả, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn tại các tổ chức tài chính khác.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về quản lý rủi ro tín dụng, hãy tham khảo bài viết Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Vietcombank, nơi bạn sẽ tìm thấy những phương pháp quản lý rủi ro trong cho vay doanh nghiệp. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ về tài chính toàn diện và ổn định ngân hàng tại các nước ASEAN sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về sự ổn định tài chính trong khu vực, có thể liên quan mật thiết đến các giải pháp phòng ngừa nợ xấu. Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ về các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường nợ xấu tại Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động đến nợ xấu, từ đó có cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này trong bối cảnh Việt Nam.