MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, rủi ro tín dụng (RRTD) được coi là rủi ro thường trực nhất, khi xảy ra có thể để lại hậu quả nặng nề không chỉ đối với một ngân hàng, mà còn tác động tiêu cực đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Mặc dù vậy, các Ngân hàng thương mại (NHTM) không thể loại bỏ hoàn toàn RRTD mà chỉ có thể hạn chế ở mức độ nhất định. Trong hoạt động tín dụng của NHTM, thay vì lựa chọn chiến lược loại bỏ rủi ro, các NHTM chấp nhận rủi ro, đánh đổi rủi ro để có lợi nhuận.
Hệ thống quản trị RRTD của một ngân hàng thực hiện sứ mệnh đảm bảo cho ngân hàng luôn kiểm soát rủi ro ở mức độ hợp lý (mức rủi ro ngân hàng có thể chấp nhận) phù hợp với qui mô và bản chất kinh doanh tín dụng của ngân hàng và đạt được lợi nhuận cao nhất. Hiệp ước Basel 2 (còn gọi là Hiệp ước vốn mới) là thỏa thuận của các Ngân hàng Trung Ương của các nước thành viên Ủy ban Basel về một cơ chế quản lý, điều hành, giám sát hoạt động ngân hàng nhằm tăng cường hiệu quả quản trị rủi ro, đặc biệt là RRTD. Năm 2006, Hiệp ước có hiệu lực với các định chế tài chính tại các nước thành viên Ủy ban Basel. Đến nay, theo khảo sát của Ủy ban Basel, Hiệp ước đã được áp dụng rộng rãi tại các NHTM ở hơn 150 quốc gia [66] bao gồm cả các nước không phải là thành viên Ủy ban Basel như một chuẩn mực quốc tế về quản trị rủi ro, thanh tra, giám sát hoạt động của các NHTM.
Tại Việt nam, ngày 20/3/2014, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có chủ trương chính thức về triển khai Basel 2 bằng Công văn 1601/2014/NHNN-TTGSNH [24]. Theo công văn này, 10 NHTM Việt nam được chọn triển khai thí điểm theo lộ trình, các NHTM khác triển khai sau giai đoạn thí điểm. 2 Đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), với trên 28 năm hoạt động đã đạt nhiều thành tựu được ghi nhận. Tính đến thời điểm 31/12/2015, Agribank là ngân hàng Việt Nam có qui mô hoạt động đứng thứ 2 trong toàn hệ thống.
Tuy vậy, tỷ lệ nợ xấu những năm gần đây luôn cao, nhiều năm vượt qua ngưỡng 3% và là một trong những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao nhất toàn hệ thống. Gần đây, NHNN và cơ quan có thẩm quyền đã phát hiện các sai phạm trong hoạt động kinh doanh (đặc biệt là hoạt động tín dụng) tại Agribank trong đó chủ yếu do nguyên nhân chủ quan trong việc quản lý, điều hành. Vì vậy, đi đôi với việc tái cơ cấu, Agribank cần phải đổi mới toàn diện quản trị RRTD. Theo Công văn 1601/2014/NHNN-TTGSNH, Agribank không nằm trong nhóm ngân hàng triển khai Basel 2 thí điểm, phần lớn nguyên nhân là những năm gần đây chất lượng tín dụng tại Agribank giảm sút nghiêm trọng, hạ tầng quản trị RRTD còn nhiều bất cập, đặc biệt là quản trị RRTD chậm đổi mới, chưa đảm bảo tính độc lập và hiệu quả của các bộ phận trong khối quản lý RRTD.
Vì vậy, để Agribank phát triển an toàn và bền vững không còn con đường nào khác là cùng với quá trình tái cơ cấu toàn diện, Agribank phải chủ động triển khai quản trị RRTD theo Basel 2. Với những lý do trên, đề tài nghiên cứu “Quản trị RRTD theo Hiệp ước Basel 2 tại Agribank” là thực sự cần thiết và có ý nghĩa cả về phương diện lý thuyết và thực tiễn. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án 2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước Hiện nay, các nghiên cứu trong nước liên quan đến luận án bao gồm các công trình đề cập đến các vấn đề: chất lượng tín dụng, RRTD, quản trị RRTD, Agribank và Basel 2. Trong đó có thể kể đến những công trình tiêu biểu sau: 3 Luận án tiến sĩ“Quản trị RRTD của Agribank”của tác giả Nguyễn Tuấn Anh[4].
Với cách tiếp cận truyền thống nội dung luận án tập trung đánh giá thực trạng quản trị RRTD tại Agribank trong giai đoạn 2005-2010 và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản trị RRTD tại Agribank, các giải pháp của luận án tập trung xử lý các vấn đề còn tồn tại trong quản trị RRTD song chưa đáp ứng được việc tuân thủ Basel 2 về quản trị RRTD. Luận án tiến sĩ “Quản lý RRTD tại Ngân hàng công thương Việt nam” của tác giả Nguyễn Đức Tú[32]. Luận án đã làm rõ các nội dung của qui trình quản trị RRTD, đặc biệt luận án đã tiếp cận các chuẩn mực của Basel 2 về đo lường RRTD. Để tăng cường quản lý RRTD tại Vietinbank, luận án đã đề xuất các giải pháp theo lộ trình, trong đó một số giải pháp (giải pháp đo lường RRTD, hoàn thiện cơ cấu bộ máy quản lý RRTD) đã hướng tới việc quản trị RRTD theo chuẩn mực quốc tế.
Luận án tiến sĩ “Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý RRTD tại hệ thống NHTM Việt nam” của tác giả Lê Thị Huyền Diệu[7]. Luận án đã làm rõ những vấn đề cốt lõi của việc xác định và xây dựng mô hình quản lý RRTD của NHTM. Luận án đã đánh giá thực trạng mô hình quản lý RRTD của hệ thống NHTM Việt nam và đề xuất các giải pháp theo lộ trình để hoàn thiện mô hình quản lý RRTD của hệ thống NHTM Việt nam. Luận án tiến sĩ “Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại Việt nam” của tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương[26].
Với cách tiếp cận hướng theo chuẩn mực Basel 2, Luận án đã làm rõ các vấn đề cơ bản về quản lý nợ xấu. Với kết quả khảo sát dữ liệu về 5 ngân hàng có qui mô lớn nhất hệ thống NHTM Việt nam giai đoạn 2005- 2011, luận án đã đề xuất các giải pháp để tăng cường quản lý nợ xấu, đặc biệt là xử lý nợ xấu tại các NHTM Việt nam. Luận án tiến sĩ “Quản lý danh mục cho vay tại Agribank” của tác giả Nguyễn Thùy Dương[8]. Nội dung luận án tập trung làm rõ lý luận cơ bản về quản lý danh mục cho vay của NHTM.
Với việc khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý danh mục cho vay tại Agribank giai 4 đoạn 2005-2011, tác giả đã đề xuất các giải pháp để hoàn thiện quản lý danh mục cho vay tại Agribank. Luận án tiến sĩ “Quản lý nợ xấu tại Agribank” của tác giả Nguyễn Thị Thu Cúc[6]. Luận án được nghiên cứu trong bối cảnh NHNN Việt nam đang tích cực áp dụng các biện pháp để đưa tỷ lệ nợ xấu của Agribank nói riêng và các NHTM Việt nam nói chung về mức dưới 3%. Trên cơ sở làm rõ lý luận quản lý nợ xấu, thực trạng quản lý nợ xấu tại Agribank giai đoạn 2010-2014, tác giả đã đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm đạt mục tiêu cuối năm 2015 tỷ lệ nợ xấu của Agribank đạt dưới 3%.
Luận án tiến sĩ “Quản trị rủi ro trong kinh doanh của NHTM Việt nam theo Hiệp ước Basel” của tác giả Nguyễn Anh Tuấn[31]. Luận án đã hệ thống các vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro của NHTM và nội dung cơ bản các Hiệp ước Basel và đánh giá mức độ tuân thủ các Hiệp ước Basel đến thời điểm cuối năm 2011. Trên cơ sở đó, luận án đã đề xuất các nhóm giải pháp cơ bản để tăng cường quản trị rủi ro tại các NHTM Việt nam theo Hiệp ước Basel trong đó chủ yếu là hướng tới tuân thủ Basel 2 và 3. Luận án tiến sĩ “Đảm bảo an toàn hệ thống NHTM Việt nam trên cơ sở áp dụng Hiệp ước tiêu chuẩn vốn quốc tế Basel” của tác giả Nguyễn Đức Trung[29].
Luận án đã luận giải một cách có hệ thống các vấn đề về đảm bảo an toàn ngân hàng trên góc độ vĩ mô và vi mô và các nội dung cơ bản của các Hiệp ước Basel. Luận án đã khảo sát và đánh giá việc đảm bảo an toàn hệ thống NHTM Việt nam giai đoạn 2005-2011 và đề xuất các giải pháp theo lộ trình để đảm bảo an toàn cho các NHTM việt nam theo Basel 2 giai đoạn 2012 - 2021. Một số bài viết: ”Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và các ứng dụng trong quản trị RRTD theo Basel 2” của tác giả Lê Thanh Tùng (Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 15- năm 2014, trang 18-21), trên cơ sở lý luận và các khuyến nghị của Ủy ban Basel trong Hiệp ước Basel 2 về hệ thống XHTDNB, tác giả đã đề xuất các giải pháp để xây dựng và ứng dụng hệ thống 5 XHTDNB theo phương pháp IRB của Hiệp ước Basel 2. ”Hệ thống kiểm soát nội bộ gắn với quản lý rủi ro tại các NHTM Việt nam trong giai đoạn hiện nay” của TS Đào Minh Phúc và Ths.
Lê Văn Hinh (Tạp chí Ngân hàng số 24 - tháng 12/2012, trang 20-26), nội dung bài viết đưa ra các nhận định về tính chất mới của rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng như những bất cập của hệ thống kiểm soát nội bộ của các NHTM Việt nam. Trên cơ sở đó các tác giả đã có một số đề xuất đối với công tác kiểm soát nội bộ tại các NHTM đáp ứng yêu cầu ngăn ngừa và kiểm soát rủi ro. “Xử lý rủi ro bằng biện pháp chuyển vốn vay ngân hàng thành vốn góp cổ phần- đôi điều bàn luận và khuyến nghị” của TS Trần Công Hòa và Ths. Đỗ Thị Trà Linh (Tạp chí Ngân hàng số 24- tháng 12/2012 trang 31-35).
Bài viết đã phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề phát sinh khi thực hiện chuyển vốn vay thành vốn góp cổ phần trong xử lý rủi ro tín dụng của các NHTM Việt nam và đề xuất với các NHTM khi thực hiện chuyển vốn vay thành vốn góp cổ phần cần giải quyết 5 vấn đề cơ bản: khả năng thu hồi vốn, bản chất và mức độ rủi ro, giá chuyển đổi, quyền lợi và trách nhiệm khi trở thành cổ đông của DN và các khó khăn, thách thức phải vượt qua để bảo toàn vốn góp của mình tại Doanh nghiệp.