CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU 1. Các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu của NHTM có liên quan đến nợ xấu.1 Nghiệp vụ cho vay. Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng chuyển giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng cho mục đích và thời gian nhất đ nh theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả nợ gốc và lãi. Có các phương thức cho vay chủ yếu sau: (i) cho vay bổ sung vốn lưu động (gồm có cho vay t ng l n, cho vay theo hạn mức tín dụng); (ii) cho vay dự án đ u tư; iii cho vay tiêu dùng; iiii cho vay theo hạn mức thấu chi; (iiiii) cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Rủi ro trong hoạt động tín dụng là hoạt động đặc trưng nhất và dễ xảy ra nhất trong nghiệp vụ cho vay của các ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động tín dụng là tình trạng người đi vay không có khả năng hoàn trả được hoặc lãi hoặc gốc hay cả hai.2 Nghiệp vụ bảo lãnh. Bảo lãnh xuất hiện vào giữa những năm 60 của thế kỷ 20 tại Mỹ, nhưng đến những năm 70 thì bảo lãnh mới thực sự bắt đ u phát triển khá mạnh và lan rộng khắp các nước trên thế giới, bão lãnh cũng bắt đ u được sử dụng trong các giao d ch thương mại quốc tế. Thực chất bảo lãnh là một trong các hình thức cấp tín dụng.
Đ nh nghĩa về hoạt động bảo lãnh ngân hàng theo Khoản 1 Điều 2 Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm Quyết đ nh 26/2006/QĐ-NHNN ngày 4 123doc 26/6/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được quy đ nh như sau: Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay. ảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc NHTM sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đ y đủ nghĩa vụ đã cam kết. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho NHTM theo thỏa thuận.
Thông thường được thể hiện qua 2 hình thức: Thư bảo lãnh và hợp đồng bảo lãnh. Như vậy xét về bản chất, bảo lãnh ngân hàng chỉ khác với nghiệp vụ cho vay ở chỗ, bảo lãnh ngân hàng là cam kết thực hiện nghĩa vụ của ngân hàng cho khách hàng trong tương lai khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ của mình đã cam kết với đối tác của h , còn nghiệp vụ cho vay là sự cấp vốn trực tiếp của ngân hàng cho khách hàng. Tuy nhiên, đứng trên quan điểm quản tr rủi ro thì c n thiết phải xem bảo lãnh ngân hàng như nghiệp vụ cho vay. Nhiều quan điểm cho rằng, rủi ro trong bảo lãnh ngân hàng chỉ xảy đến đối với ngân hàng khi ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ thay bên được bảo lãnh, vì lúc đó ngân hàng mới phải dùng tiền để trả thay cho khách hàng.
Tuy nhiên, khi đề cập đến rủi ro tức là khả năng xảy ra những điều kiện bất lợi không mong muốn, thì ngay t khi ký kết hợp đồng bảo lãnh, rủi ro đã xuất hiện đối với ngân hàng phát hành bảo lãnh. Đó là: Một là, rủi ro do trình độ yếu kém của đội ngũ cán bộ tín dụng, năng lực hạn chế của lãnh đạo các ngân hàng thương mại. 5 123doc Hai là, rủi ro về vận dụng các quy đ nh của pháp luật trong nước, quốc tế liên quan đến nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng, làm phát sinh những tranh chấp kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngân hàng. a là, yếu kém trong năng lực phân tích, thẩm đ nh khách hàng d n đến việc ngân hàng b l a đảo, mất vốn do phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong khi bên được bảo lãnh mất khả năng thanh toán.
Ví dụ như một trường hợp xảy ra hồi tháng 1/2010 v a qua, khách hàng tại một Ngân hàng thương mại cổ ph n đã sử dụng hợp đồng kinh tế giả mạo để yêu c u Ngân hàng này phát hành thư bảo lãnh. Do năng lực thẩm đ nh và phân tích khách hàng của cán bộ ngân hàng chưa tốt, việc kiểm tra phê duyệt của lãnh đạo ngân hàng cũng có vấn đề nên khách hàng đã l a đảo chiếm đoạt được 3 tỷ đồng trong tổng số tiền 12 tỷ đồng mà Ngân hàng này đã thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng. Tuy số tiền b mất không lớn nhưng sự việc chỉ được phát hiện sau khi khách hàng đã chiếm đoạt được số tiền của ngân hàng và cơ quan an ninh vào cuộc. Qua trường hợp này có thể thấy rằng việc thiếu thận tr ng, thiếu kiến thức và kỹ năng trong thẩm đ nh khách hàng và kiểm soát lỏng lẻo của đội ngũ cán bộ ngân hàng sẽ để lại những hệ lụy không những về tài sản mà c n về danh tiếng của ngân hàng thực hiện bảo lãnh.
Ngoài ra, rủi ro trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng c n phải được xem xét đánh giá t phía bên được bảo lãnh. Những biến động liên tục trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bên được bảo lãnh luôn tiềm ẩn khả năng không thực hiện được nghĩa vụ cam kết, hay không có khả năng trả nợ trong trường hợp ngân hàng bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thay. Tất cả các nguyên nhân trên đều d n đến rủi ro khiến ngân hàng bảo lãnh không có khả năng thu hồi vốn.Nghiệp vụ bao thanh toán. Ở Việt Nam, theo quyết đ nh 1096/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành ngày 06/9/2004: ao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản thu phát sinh t việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng hóa.
Theo luật các tổ chức tín dụng 2010: ao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đ i các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh t việc mua, bán hàng hóa, cung ứng d ch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng d ch vụ Tr m Th Xuân Hương, 2012). Sử dụng d ch vụ bao thanh toán, doanh nghiệp sẽ được tài trợ 80-90% giá tr các khoản phải thu g n đến thời hạn thanh toán thường là dưới 180 ngày mà không c n tài sản đảm bảo cho các khoản ứng trước. Ngay khi nhận được tiền thanh toán t bên mua, ngân hàng sẽ chuyển số tiền c n lại vào tài khoản của doanh nghiệp sau khi tr đi số tiền ứng trước. Do đó, bao thanh toán có thể được xem là giải pháp tiền mặt cho các doanh nghiệp bán hàng với phương thức trả chậm.
Rủi ro trong bao thanh toán TT : Rủi ro giả mạo trong BTT: tuy BTT là hình thức tài trợ không có đảm bảo c n phải được thẩm đ nh cẩn thận nhưng để có thể cung ứng vốn ngay thì thủ tục xin tài trợ bằng BTT không quá khắt khe với người bán. Hơn nữa, đây là hình thức tài trợ gián tiếp, đơn v BTT không trực tiếp gặp gỡ, thương lượng với người nợ thật sự. Với điều kiện vay dễ dàng và đ y rủi ro, đơn v BTT sẽ là mục tiêu cho các con nợ có ý đ nh l a đảo. Bên mua và bên bán có thể thông đồng với nhau làm hợp đồng 7 123doc mua bán và hóa đơn giả.
Hợp đồng và hóa đơn xuất phát t quan hệ mua bán t hai bên, nếu đơn v BTT không giám sát và kiểm tra chặt chẽ thì rủi ro xảy ra là điều không đáng tránh khỏi. Không chỉ làm giả hóa đơn và hợp đồng mà công ty cũng có thể là ma, không c n phải lấy tên một công ty giả mạo mà có thể xin giấy phép kinh doanh hắn hoi, con dấu cũng là con dấu thật chỉ có điều là đằng sau danh nghĩa đó không có một công ty nào hoạt động, có nghĩa là danh nghĩa đó không có thật gì cả. Đơn v TT cũng có rủi ro là bên bán sẽ dùng một giao d ch đem đến xin tài trợ ở nhiều nơi. Đơn v BTT sẽ không là chủ sở hữu duy nhất khoản phải thu này.
Nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu. Xuất nhập khẩu (XNK) là hoạt động không thể thiếu của nền kinh tế. Tài trợ xuất nhập khẩu là các gói sản phẩm hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu. Do khả năng tài chính có hạn mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu không phải lúc nào cũng có đủ vốn để thanh toán hàng nhập khẩu và thu mua chế biến hàng xuất khẩu, t đó nảy sinh nhu c u vốn c n sự giúp đỡ của ngân hàng.
Mặt khác, hoạt động xuất nhập khẩu bắt buộc thực hiện thanh toán qua ngân hàng và thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng của quá trình xuất nhập khẩu. Hình thức đơn giản đ u tiên là ngân hàng cho vay trực tiếp đối với các đơn v xuất nhập khẩu như cho vay bổ sung vốn lưu động, thu mua chế biến sản xuất hàng xuất khẩu theo các hợp đồng đã được ký kết, cho vay để thanh toán nguyên liệu, hàng hóa, vật tư nhập khẩu t nước ngoài… Sau đó, ngân hàng c n mở rộng cho vay trung và dài hạn, cho doanh nghiệp vay để mua sắm máy móc thiết b , cải tiến công nghệ, ứng dụng các 8 123doc thành tựu khoa h c kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh trên th trường thế giới. Rủi ro trong hoạt động tín dụng tài trợ XNK là một dạng rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Đó là những biến cố bất thường, không mong đợi xảy ra, d n đến tổn thất cho ngân hàng.
Trong nền kinh tế th trường với xu hướng toàn c u hóa ngày càng rõ rệt và quan hệ thương mại quốc tế ngày càng được mở rộng thì đồng thời hoạt động XNK cũng đồng thời cũng phát triển với quy mô ngày càng lớn.