CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NHTM và năng lực tài chính của NHTM 1. Khái niệm NHTM Có nhiều định nghĩa khác nhau về NHTM, cụ thể như sau: Theo đạo luật ngân hàng của Cộng hòa Pháp (1941), NHTM là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính (Trần Huy Hoàng, 2011). Theo Nghị định 59 (2009), NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các TCTD và các quy định khác của pháp luật.
Theo Luật các TCTD (2010), ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Như vậy: NHTM là một trong những loại hình ngân hàng, cung cấp các dịch vụ tài chính với các nghiệp vụ chính là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. NHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận dưới sự tuân thủ luật pháp hiện hành.
Khái niệm năng lực tài chính của NHTM Năng lực tài chính được định nghĩa là các nguồn lực mang lại cho tổ chức một phương tiện cần thiết (về mặt tài chính) để nắm bắt các cơ hội và chống đỡ rủi ro (Bowman, 2011). Năng lực tài chính còn được định nghĩa là các nguồn lực và mối quan hệ có sẵn của tổ chức (cả bên ngoài và bên trong) cho phép các tổ chức theo đuổi nhiệm vụ và hoàn thành vai trò của mình (Hội đồng phát triển kinh tế xã hội Canada, 2003, tr. Năng lực tài chính của NHTM chính là khả năng tài chính để ngân hàng thực hiện và phát triển các hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả (Phan Thị Hằng Nga, 2013). Lê Thanh Bình (2012) cũng cho rằng năng lực tài chính của NHTM là khả năng của NHTM trong việc đáp ứng, xử lý các vấn đề phát sinh trong hoạt động kinh doanh.
Năng lực tài chính là khả năng, là sức mạnh nội lực giúp ngân hàng có thể 12 phản ứng linh hoạt trước mỗi sự thay đổi tích của hay tiêu cực của thị trường như khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh kiếm lời hay chính là sức đề kháng của ngân hàng trước những rủi ro phải đối mặt. Tiêu chí đánh giá năng lực tài chính của NHTM Bài nghiên cứu sử dụng các tiêu chuẩn đánh giá theo CAMELS có kết hợp tiêu chí an toàn vốn theo Basel II. Trong bộ tiêu chí CAMELS, bài nghiên cứu sử dụng 04 tiêu chí định lượng gồm: C (capital) – mức đảm bảo vốn chủ sở hữu, A (assets) – chất lượng tài sản có, E (earnings) - khả năng tạo lợi nhuận và L (liquidity) - thanh khoản. Vì giới hạn trong thu thập số liệu nên tác giả không thể đánh giá 02 tiêu chí định tính là M (management) – chất lượng quản lý và S (Sentivity) – độ nhạy so với rủi ro thị trường.
Tiêu chí về vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thuộc quyền quản lý của chủ sở hữu ngân hàng, gồm các thành phần: vốn điều lệ, thặng dư vốn, thu nhập giữ lại và khoản dự trữ. Đây là nguồn vốn ổn định, lâu dài của ngân hàng, ngân hàng có thể sử dụng với kỳ hạn dài mà không phải hoàn trả nên vốn chủ sở hữu là nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngân hàng. Vốn chủ sở hữu được dùng vào việc xây dựng cơ sở vật chất cho ngân hàng, mua sắm thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh, góp vốn, thành lập công ty con. Phần còn lại của vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình hoạt động ban đầu khi ngân hàng mới đi vào hoạt động, là cơ sở hình thành nên các nguồn vốn khác cho ngân hàng.
Khi ngân hàng xảy ra rủi ro, nguồn vốn này sẽ là lớp bảo vệ cuối cùng của ngân hàng; vì vậy, vốn chủ sở hữu của NHTM lớn chứng tỏ NHTM có năng lực tài chính mạnh. Tiêu chí đánh giá vốn chủ sở hữu: quy mô và tỷ lệ tăng trưởng vốn chủ sở hữu, hệ số đòn bẩy tài chính, tỷ lệ an toàn vốn. Trong đó, hệ số đòn bẩy tài chính được tính theo công thức sau: Nợ phải trả Hệ số đòn bẩy tài chính = ∗ 100% (1.1) Vốn chủ sở hữu Ngân hàng có hệ số đòn bẩy cao sẽ thu được lợi nhuận cao, tuy nhiên ngân hàng sẽ gặp rủi ro cao hơn trong các trường hợp thị trường có sự chuyển biến xấu. Theo tiêu chuẩn CAMELS, hệ số đòn bẩy tài chính không vượt quá 12.5 lần, năng lực tài chính của ngân hàng sẽ được đảm bảo an toàn.
13 Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Do tầm quan trọng của vốn chủ sở hữu, từ góc độ quản lý, NHNN đã đưa ra những quy định về yêu cầu vốn tối thiểu để kiểm soát mức độ an toàn vốn nhằm đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh của các NHTM. Tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của NHNN Bảng 1. Tóm tắt khuôn khổ pháp lý quy định về tỷ lệ an toàn vốn tại Việt Nam Văn bản pháp lý Tóm tắt một số nội dung chính Quyết định Quyết định này chia vốn tự có của TCTD thành vốn 457/2005/QĐ-NHNN cấp 1 và vốn cấp 2. ngày 19/04/2005 quy định Vốn tự có CAR = ∗ 100% (1.2) Tổng tài sản có rủi ro về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của Quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% giữa vốn tự TCTD (hiệu lực từ ngày có so với tổng tài sản có rủi ro.
Tài sản có được phân chia theo 04 mức độ rủi ro khác nhau: 0%, 20%, 50%, 100%. Tài sản có ngoại bảng (sau chuyển đổi) được phân chia theo 02 mức độ rủi ro: 0%, 100%. Vốn tự có CAR = ∗ 100% (1.3) Tổng tài sản có rủi ro Thông tư 13/2010/TT- Quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự NHNN ngày 20/05/2010 có so với tổng tài sản có rủi ro. Tỷ lệ an toàn vốn tính quy định về các tỷ lệ đảm cho rủi ro tín dụng.
bảo an toàn trong hoạt động của TCTD (hiệu lực Tài sản có nội bảng được phân chia theo 06 mức độ từ ngày 01/10/2010). Tài sản có ngoại bảng (sau chuyển đổi) được phân chia theo 03 mức độ rủi ro: 0%, 50%, 100%. 14 Thông tư 36/2014/TT- CAR = Vốn tự có ∗ 100% (1.4) Tổng tài sản có rủi ro NHNN ngày 20/11/2014 quy định các giới hạn, tỷ Quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự lệ đảm bảo an toàn hoạt có so với tổng tài sản có rủi ro. Tỷ lệ an toàn vốn tính động của TCTD, chi cho rủi ro tín dụng.
nhánh ngân hàng nước Tài sản có nội bảng được phân chia theo 06 mức độ ngoài (hiệu lực từ ngày rủi ro: 0%, 20%, 50%, 100%, 150%, 200%. Tài sản có ngoại bảng (sau chuyển đổi) được phân Thông tư 06/2016/TT- chia theo 04 mức độ rủi ro: 0%, 20%, 50%, 100%. NHNN ngày 27/05/2016 Quy định ngân hàng ban hành văn bản nội bộ về cấp sửa đổi Thông tư 36 (hiệu tín dụng, đánh giá tài sản, hệ thống quản lý an toàn vốn lực từ ngày 01/07/2016). Vốn tự có CAR = ∗ 100% (1.5∗(KOR +KMR) (RWA: Tổng tài sản tính theo rủi ro tín dụng, KOR: vốn Thông tư 41/2016/TT- yêu cầu cho rủi ro hoạt động, KMR: vốn yêu cầu cho rủi NHNN ngày 30/12/2016 ro thị trường) quy định tỷ lệ an toàn vốn Tỷ lệ an toàn vốn tính cho rủi ro tín dụng, hoạt động đối với TCTD, chi nhánh và thị trường.
Quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% ngân hàng nước ngoài giữa vốn tự có so với tổng tài sản có rủi ro, vốn cấp 2 (hiệu lực từ ngày tối đa bằng 100% vốn cấp 1, dự phòng rủi ro không 01/01/2020).25% tài sản có quy đổi theo mức độ rủi ro. Hướng dẫn cách phân loại tài sản có cho rủi ro tín dụng theo từng hạng mục tài sản: tiền mặt (tương đương), cho thuê tài chính, khoản phải đòi, tài sản khác, khoản đầu tư kinh doanh chứng khoán; tùy từng đối tượng phát hành sẽ có hệ số rủi ro khác nhau. Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Quyết định 457 (2005), Thông tư 13 (2010), 36 (2014), 06 (2016) và 41 (2016) 15 Chỉ tiêu CAR phản ánh sự cần thiết phải có một cơ sở vốn đủ để đảm bảo an toàn cho tổng tài sản có rủi ro của ngân hàng. Căn cứ theo thời hạn hiệu lực của Thông tư 13/2010/TT-NHNN (2010) và Thông tư 36/2014/TT-NHNN (2014), quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu giai đoạn 2014 - 2019 phải đạt từ 9% để đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh của NHTM, đảm bảo năng lực tài chính cho ngân hàng.
CAR càng cao thì năng lực tài chính càng lành mạnh. Bên cạnh góc độ quản lý, CAR cũng là chỉ tiêu được quan tâm hàng đầu trong các chuẩn mực an toàn tài chính của ngân hàng, hiệp ước Basel II đã cho thấy được điều đó. Tiếp cận tỷ lệ an toàn vốn theo hiệp ước Basel II Năm 1988, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng công bố khung rủi ro tín dụng trong Basel I. Basel I xác định các tiêu chuẩn vốn nhằm hạn chế rủi ro trong các hoạt động kinh doanh cho ngân hàng, tăng cường sự ổn định của hệ thống tài chính các quốc gia.
Trong xu thế tất yếu của sự phát triển, các quy định trong Basel I được sửa đổi và bổ sung. Đến tháng 06/2004, Basel II được ban hành với các mục tiêu: nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế, duy trì một môi trường bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trong thị trường tài chính quốc tế. Bài học từ sự sụp đổ của hệ thống tài chính năm 2008, các ngân hàng đồng loạt cho vay dưới chuẩn, quy định về an toàn vốn không được đảm bảo đã gây ra những tổn thất nặng nề cho hệ thống ngân hàng. Từ đây, hiệp ước Basel II được nhìn nhận lại, đây là một bước tiến quan trọng trong việc đánh giá năng lực tài chính của các ngân hàng dưới góc độ an toàn vốn.
Basel II đã loại bỏ khái niệm “một kích thước phù hợp cho tất cả” về yêu cầu tính toán vốn cho các ngân hàng.