chương 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm 2. Khái niệm về rủi ro Tìm về nguồn gốc của khái niệm rủi ro phải nhắc đến John Haynes (1895) - người tiên phong đầu tiên nghiên cứu về rủi ro.
Theo ông, rủi ro là khả năng xảy ra những hư hỏng hay mất mát một cách tình cờ, còn sự kiện không chắc chắn được coi là rủi ro khi nó có những tác động xấu đến kết quả của đơn vị. Ông cũng khẳng định rằng những nhà tư bản – người đầu tư tài sản vào đơn vị sẽ gánh chịu rủi ro liên quan đến đơn vị. Knight (1921), rủi ro là những sự kiện trong tương lai mà có thể đo lường được sự tác động, còn những sự kiện không thể đo lường được là những sự kiện không chắc chắn. Nguyên nhân khách quan của rủi ro đến từ những sự kiện xảy ra ngoài ý muốn của con người và không thể lường trước hay kiểm soát được, còn nguyên nhân chủ quan của rủi ro thì đến từ các hành vi trực tiếp của con người hoặc từ các tổ chức kinh doanh gây nên.
Theo COSO (2004), rủi ro là khả năng một sự việc có thể xảy ra và tác động đến việc hoàn thành được các mục tiêu đã đề ra của một tổ chức. Các định nghĩa trên dù ít nhiều khác nhau song có thể thấy rằng nó cùng đề cập đến hai đặc điểm cơ bản của rủi ro, đó là: “Rủi ro là sự không chắc chắn và là khả năng xảy ra kết quả không mong muốn. Trong các khả năng xảy ra, có ít nhất một khả năng đưa đến kết quả không mong muốn. Và kết quả này có thể đem lại tổn thất hay thiệt hại cho đối tượng gặp rủi ro.” Rủi ro vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực: rủi ro có thể mang đến cho con người những tổn thất, mất mát, nguy hiểm, nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội, thời cơ.
Nếu tích cực nghiên cứu, nhận dạng đo lường rủi ro, chúng ta có thể tìm ra được những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những tiêu cực và phát huy được những cơ hội tích cực mang lại từ rủi ro. Rủi ro trong hoạt động ngân hàng Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro là những điều không chắc chắn của những kết quả trong tương lai, hay là những khả năng của kết quả bất ổn; là khả năng mà tại đó tỷ suất sinh lợi nhuận thực tế khác biệt so với tỷ suất sinh lợi mong đợi. Rủi ro trong hoạt động ngân hàng có nghĩa là khả năng ngân hàng bị thua lỗ một phần hoặc thậm chí là tất cả các khoản đầu tư ban đầu. Trong hoạt động của ngân hàng, thường phát sinh những rủi ro sau: Rủi ro tín dụng: là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi khách hàng không thực hiện thanh toán nợ cho dù là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn.
Rủi ro thanh khoản: là rủi ro phát sinh chủ yếu từ xu hướng của các ngân hàng là huy động ngắn hạn và cho vay dài hạn. Rủi ro lãi suất: là rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng. Rủi ro giá cả: là rủi ro về việc giá trị các tài sản của một ngân hàng có thể biến động. Rủi ro này xuất hiện trong tất cả các chủng loại tài sản, từ bất động sản đến cổ phiếu và trái phiếu … Rủi ro tỷ giá: là rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay ngoại tệ hoặc kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng khi tỷ giá biến động theo chiều bất lợi cho ngân hàng.
Rủi ro tỷ giá cũng phát sinh khi có sự chênh lệch về kỳ hạn, về loại tiền tệ của các khoản ngoại hối nắm giữ, và vì thế làm cho ngân hàng có thể phải gánh chịu thua lỗ khi tỷ giá ngoại hối biến động. Rủi ro pháp lý: rủi ro phát sinh do ngân hàng bị khởi kiện, hoặc khi nhà nước thay đổi đột ngột chính sách vĩ mô về cơ cấu kinh tế, lĩnh vực ưu tiên,… thì điều này có thể dẫn tới rủi ro thua lỗ cho ngân hàng. Rủi ro uy tín: là rủi ro dư luận đánh giá xấu về ngân hàng, gây khó khăn nghiêm trọng cho ngân hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn hoặc khách hàng rời bỏ ngân hàng. 11 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM là rủi ro tiềm ẩn, luôn có thể xảy ra, là loại rủi ro không phải muốn tránh là được; song nếu rủi ro xảy ra đơn lẻ thì mặc dù bất kỳ loại rủi ro nào cũng dẫn đến sự giảm sút thu nhập, lợi nhuận của ngân hàng, chúng chỉ khác nhau về mức độ ảnh hưởng do mức độ rủi ro khác nhau thì vẫn không ảnh hưởng đến tính bền vững và sự phát triển chung của toàn hệ thống.
Tuy nhiên, nếu một khi rủi ro xảy ra liên tiếp, ở mức độ lớn và phạm vi rộng rủi ro tạo thành chuỗi … cả thực tế và lý thuyết vĩ mô đều chứng minh, khi đó hiệu ứng domino sẽ xảy ra nhanh chóng trên các thị trường tín dụng, chứng khoán, bất động sản, thương mại. và ngân hàng bị phá sản, thị trường tài chính ngân hàng sụp đổ, phá vỡ sự ổn định của hệ thống. Lý thuyết về rủi ro phá sản Theo Rose (1998), các ngân hàng phải quan tâm trực tiếp tới rủi ro đối với khả năng tồn tại lâu dài, đây được gọi là rủi ro phá sản. Nếu quy mô nợ khó đòi quá lớn hay giá trị thị trường của phần lớn khoản mục đầu tư chứng khoán giảm, vốn chủ sở hữu có thể giảm sút đáng kể.
Nếu các nhà đầu tư và người gửi tiền nhận biết được tín hiệu này và rút tiền, ngân hàng có thể không còn cách lựa chọn nào khác ngoài việc tuyên bố mất khả năng thanh toán và đóng cửa. Một vài chỉ số đo lường rủi ro phá sản Đối với bất kỳ một tổ chức, phá sản được xem như dấu chấm hết đối với tổ chức đó, mà đặc biệt hơn là một ngân hàng phá sản sẽ gây nên một hệ lụy cho nền kinh tế của một quốc gia hay rộng ra là ảnh hưởng đến cả kinh tế thế giới. Câu hỏi đặt ra: Làm thế nào để phát hiện sớm nguy cơ rủi ro phá sản để các NHTM có biện pháp quản lý rủi ro kịp thời. Việc tìm ra một công cụ để phát hiện dấu hiệu báo trước sự rủi ro phá sản luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu về tài chính.
Có nhiều công cụ đã được phát triển để làm việc này, trong đó chỉ số Z của Altman là công cụ được cả hai giới học thuật và thực hành công nhận và sử dụng rộng rãi trên thế giới. Chỉ số Z-score của E.Altman (1968) Chỉ số Altman Z – score (gọi tắt là chỉ số Z – score) được phát triển năm 1968 bởi giáo sư Edward I. Altman, thuộc trường kinh doanh Leonard N. Stern, thuộc trường Đại học New York, dựa vào việc nghiên cứu nhiều công ty khác nhau tại Mỹ.
Mặc dù chỉ số Zscore này được tìm ra tại Mỹ, nhưng hầu hết các nuớc, vẫn có thể sử dụng với độ tin cậy cao. Mô hình của giáo sư được phát triển bằng cách sử dụng mô hình phân tích đa nhân tố (MDA) và dựa trên các chỉ số tài chính phản ánh hiệu suất của công ty. Một trong những lợi thế quan trọng nhất của phương pháp theo tiếp cận của Altman là mức độ chính xác cao trong việc dự đoán thất bại của công ty. Đặc biệt, mô hình Altman Z cổ điển chỉ có thể được áp dụng đối với các công ty lớn có cổ phiếu được giao dịch trên thị trường.
Altman đề xuất một phiên bản sửa đổi của mô hình đa nhân tố phù hợp cho các công ty khác (Z = 0.995X5), cũng như sửa đổi mô hình cho công ty phi sản xuất (Z = 6. Chỉ số Z-score theo Roy (1952) và các điều chỉnh Z-score khác Chỉ số Z-score được đề xuất bởi Roy (1952) với công thức nguyên thủy ban đầu như sau: Z-score = (1) Trong đó, ROA là tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, E/A là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và σROA là độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản. Từ những năm 1970, kế thừa các nghiên cứu dựa trên thành quả của Altman, các nhà nghiên cứu bắt đầu tập trung nghiên cứu chuyên sâu vào từng phân ngành nghề cụ thể như: ngân hàng, du lịch, công nghệ thông tin, casino. Riêng ngành 13 ngân hàng thì điển hình là sự đóng góp của Boyd & Graham (1988) sử dụng công thức sau: Z-score = (2) Chỉ số Z-score (2) dùng để đánh giá rủi ro phá sản của tập đoàn tài chính ngân hàng đầu tư ra ngoài lĩnh vực tài chính ngân hàng.
Và tính chất của chỉ số Z- score là chỉ số Z-score càng cao thì mức độ rủi ro của ngân hàng càng thấp. Cũng thời điểm đó, Hannan & Hanweck phát triển chỉ số rủi ro như sau: Z-score = (3) Chỉ số Z-score (3) nêu tương tác giữa rủi ro danh mục ngân hàng và vốn chủ sở hữu, đồng thời cho rằng rủi ro khánh kiệt phụ thuộc hai thành tố này. Z-score thể hiện việc giảm thu nhập sẽ làm thâm hụt vốn, từ đó khiến ngân hàng lâm vào trạng thái khánh kiệt và đứng trước nguy cơ phá sản. Theo Cihak & Hess (2008), để lượng hóa sự ổn định, nghiên cứu áp dụng chỉ số: Z-score = (4) Theo Foos và ctg (2010) đưa nghiên cứu bổ sung sử dụng chỉ số: Z-score = (5) Theo Marco & Fernandez (2008) sử dụng Z-score ở một dạng khác nhưng vẫn giữ nguyên bản chất của chỉ số này dựa trên đề xuất của các tác giả trước đây, cụ thể: Z-score = (6) 14 2.
Tổng quan các công trình nghiên cứu trước Đề tài nghiên cứu về rủi ro phá sản của ngân hàng được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và sau đây là một số nghiên cứu liên quan: Theo Ivičić L. và ctg (2008): nghiên cứu tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô khác nhau và rủi ro ngân hàng, với chỉ số Z – score đại diện cho rủi ro vỡ nợ ngân hàng khi ngân hàng mất khả năng thanh toán hay gọi tắt là rủi ro tại 7 ngân hàng của các nước trong khu vực Trung và Đông Âu (CEE) từ năm 1996 - 2006.