Chương 1, tác giả đã trình bày các phần về tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Sau đây, luận văn sẽ lần lượt đi vào nội dung chi tiết trong các chương tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO THANH KHOẢN VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Thanh khoản và rủi ro thanh khoản trong hoạt động của Ngân hàng thưong mại 2.1 Khái niệm thanh khoản và rủi ro thanh khoản 2.1 Khái niệm thanh khoản Trong lý thuyết trung gian tài chính, có nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ “thanh khoản”. Thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh.
> Theo BCBS (2008) “thanh khoản có thể được xem như là khả năng của ngân hàng để tài trợ cho việc gia tăng tài sản và hoàn thành các nghĩa vụ thanh toán khi chúng đến hạn mà không chịu bất kỳ một khoản lỗ nào không thể chấp nhận được”. > Sau khủng hoảng tài chính tại Mỹ năm 2008, khái niệm thanh khoản đã được mỏ rộng hon. BCBS (2010) nhận định rằng “thanh khoản là khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và giao dịch vốn của ngân hàng”. > Theo Duttweiler (2009), thanh khoản là sự dễ dàng chuyển đổi một tài sản cụ thể thành tiền mặt và khi công ty muốn chuyển tài sản thành tiền mặt thì thị trường vẫn còn khả năng chấp nhận các giao dịch.
> Theo Ivanov (2010), thanh khoản có ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào những hoàn cảnh khác nhau: nó có thể là tính thanh khoản của một sản phẩm thị trường tài chính hay tính thanh khoản của một doanh nghiệp, một ngân hàng, hoặc rộng hon nữ là tính thanh khoản của hệ thống tài chính. Nhìn chung, các khái niệm về thanh khoản có thể hiểu một cách đon giản rằng: thanh khoản đại diện cho sức mạnh tài chính của một ngân hàng và là khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính tại mọi thời điểm. Có thể thấy, thanh khoản hoàn toàn không 6 phải là một số tiền cụ thể hay là một tỷ lệ cố định nào đó, mà thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn. Do được thực hiện bằng tiền mặt nên phần lớn thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ.
Việc không thể thực hiện được nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn sẽ dẫn đến tình trạng ngân hàng thiếu hụt thanh khoản. Trưong Quang Thông (2013) còn cho rằng, khi nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, thặng dư thanh khoản cũng xảy ra nên thiếu những cơ hội kinh doanh đầu tư.2 Khái niệm rủi ro thanh khoản Thuộc trường phái trung hòa, Apgar (2006) nhận định, rủi ro là bất cứ điều gì không chắc chắn có thể ảnh hưởng tới các kết quả của chúng ta so với những gì chúng ta mong đợi và có thể đo lường được. Do đó, thanh khoản cũng xuất hiện rủi ro khi thanh khoản rơi vào trạng thái thiếu thanh khoản hoặc thừa thanh khoản. Theo Diamond và Dybvig (1983), ngân hàng tồn tại là do ngân hàng đảm bảo thanh khoản tốt hơn thị trường tài chính.
Tuy nhiên, bản thân ngân hàng cũng đối diện với rủi ro chuyển đổi và rủi ro rút tiền ồ ạt từ phía khách hàng. Rủi ro thanh khoản (RRTK) là loại rủi ro dẫn đến mất khả năng thanh toán khi ngân hàng không đủ vốn khả dụng hoặc chưa chuyển đổi kịp các tài sản thành tiền để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán và nghĩa vụ tài chính khác. Ngân hàng tạo ra thanh khoản càng cao thì rủi ro ngân hàng phải bán những tài sản kém thanh khoản hơn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản cho khách hàng càng lớn. Duttvveiler (2009) cho rằng, RRTK là loại rủi ro phát sinh khi mà NHTM không có khả năng thanh toán cho khách hàng tại một thời điểm nào đó, hoặc do phải huy động nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán, hoặc do các nguyên nhân khác làm sụt giảm khả năng thanh toán của NHTM, từ đó kéo theo là những tác động không tốt cho NHTM.
Trước tình hình rủi ro thanh khoản có thể làm suy yếu sức khỏe của hệ thống ngân hàng bất cứ lúc nào, BCBS (2008) đã chia rủi ro thanh khoản ngân hàng thành hai loại rủi ro gồm: rủi ro thanh khoản von (funding liquidity risk) và rủi ro thanh khoản 7 thị trường (market liquidity risk) nhằm tăng cường biện pháp thực hiện nâng cao khả năng thanh khoản cho hệ thống NHTM. Trong đó: > Rủi ro thanh khoản von: Là loại rủi ro mà ngân hàng sẽ không thể đáp ứng được hiệu quả của dòng tiền ở hiện tại, tưong lai và theo yêu cầu khác mà không ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày hoặc là điều kiện tài chính của tổ chức (BCBS, 2008). > Rủi ro thanh khoản thị trường: Là loại rủi ro mà ngân hàng không thể dễ dàng bù đắp được hoặc loại trừ một trạng thái của một tài sản nào đó ở mức giá thị trường (BCBS, 2008). Giữa hai loại rủi ro này luôn có tác động mạnh lẫn nhau, đặc biệt là trong những giai đoạn khủng hoảng.
Drehmann và Nikolaou (2009) cho rằng cú sốc đối vói thanh khoản vốn có thể dẫn tới việc ngân hàng bán tháo tài sản, làm suy giảm giá của tài sản. Khi đó, thanh khoản thị trường thấp sẽ dẫn tói biên độ (margin) cao hon và làm tăng rủi ro thanh khoản vốn. Theo Thông tư số 08/2017/TT-NHNN ngày 01/08/2017 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam qui định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng thì rủi ro thanh khoản của NHTM xảy ra khi: V Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn; hoặc V Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ đó. Nhìn chung, dưới góc độ quản trị ngân hàng thì thặng dư hay thiếu hụt thanh khoản sẽ đều gây ra tình trạng mất cân bằng thanh khoản, được cho là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro thanh khoản.
Do đó, ngân hàng có thể sẽ phải đối diện vói những tổn thất trầm trọng và quan trọng hon hết là liên đới ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của toàn hệ thống ngân hàng.2 Các lỷ thuyết về rủi ro thanh khoản 2. ỉ Lý thuyết ưa thích thanh khoản (The Liquidity Preference Theory) Theo Keynes (1936), nhu cầu về tiền mặt của mọi chủ thể kinh tế gồm hai bộ phận: nhu cầu tiền mặt cho giao dịch (hễ có thu nhập nhiều hon thì tiêu dùng nhiều hon) và nhu cầu tiền mặt cho mục đích đầu co (lãi suất cao hay thấp sẽ quyết định xu hướng giữ tiền mặt của chủ thể kinh tế). Ba giả thuyết mà Keynes đưa ra cho khuôn mẫu của lý thuyết này là: > Thứ nhất: Hai loại tài sản chính được dùng làm của cải dự trữ cho chủ thể kinh tế là trái phiếu và tiền mặt. > Thứ hai: Tiền mặt không mang lại lợi nhuận và trái phiếu có tỷ suất lợi nhuận dự tính bằng vói lãi suất thực.
Khi lãi suất tăng, chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt tăng lên, cầu về tiền sẽ giảm do tiền trở nên kém hấp dẫn hơn. > Thứ ba: Lượng cung tiền do Ngân hàng trung ương (NHTW) kiểm soát và không thay đổi trong ngắn hạn. Lãi suất luôn có xu hướng đi về điểm cân bằng. Khi lãi suất tăng, cầu trái phiếu tăng, cầu trái phiếu tăng làm tăng giá trái phiếu và lãi suất giảm đi.
Việc nắm giữ tiền rõ ràng không sinh ra lợi nhuận và nếu muốn sinh lợi nhuận thì phải đầu tư. Tiền mặt là tài sản có tính thanh khoản cao nên việc nắm giữ nhiều tiền mặt làm tăng thanh khoản nhưng cũng sẽ làm mất đi cơ hội tạo ra lợi nhuận. Những ngân hàng có lợi nhuận thấp thường có xu hướng gia tăng đầu tư vào các danh mục tài sản có tính rủi ro cao hơn nên dễ dẫn đến giảm thanh khoản (Lê Hoàng Vinh & Trần Phi Dũng, 2020).2 Lỷ thuyết cho vay thương mại vể tính thanh khoản (The Commercial Loan Theory OfLiquidity) Lý thuyết cho vay thương mại về tính thanh khoản (The Commercial Loan Theory Of Liquidity) được Smith (1776) mô tả về tính thanh khoản của các khoản cho vay thương mại của ngân hàng như sau: các khoản vay ngắn hạn tài trợ cho hàng hóa là 9 khoản vay có tính thanh khoản cao nhất, được gọi là khoản vay tự thanh lý, do hàng hóa được tài trợ có thể được bán trên đường từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Khoản vay tài trợ cho một giao dịch và chính giao dịch đó cung cấp cho người vay số tiền để trả nợ ngân hàng.
Smith (1776) gọi những khoản vay này là có tính thanh khoản vì mục đích của chúng và tài sản thế chấp của chúng có tính thanh khoản. Ba giả thuyết mà Smith (1776) đưa ra cho khuôn mẫu này là: NHTM phải cung cấp các khoản cho vay có tính thanh khoản cao trong ngắn hạn để đáp ứng yêu cầu về vốn lưu động; ngân hàng phải hạn chế cho vay dài hạn; khoản vay mới không được cấp trừ khi khoản vay trước đó đã được thanh toán. Giả thuyết này chủ yếu tập trung vào việc hạch toán ghi nợ trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng và cũng chỉ ra rằng, khi NHTM thực hiện các khoản cho vay sản xuất tự thanh lý ngắn hạn, thì NHTW nên cho các NHTM vay dựa trên đảm bảo của các khoản vay ngắn hạn đó. Nguyên tắc này góp phần bảo đảm mức độ thanh khoản và lượng cung tiền phù hợp cho từng ngân hàng và cho toàn bộ nền kinh tế.
Theo Akani và Vivian (2018), các khoản cho vay sản xuất tự thanh lý ngắn hạn như vậy có ba ưu điểm: tính thanh khoản của khoản vay cao; khoản vay đáo hạn trong thời gian ngắn và phục vụ cho mục đích sản xuất, nên không có rủi ro về việc chuyển sang nợ xấu; các khoản vay có hiệu quả như vậy sẽ mang lại thu nhập cho ngân hàng. Tuy nhiên, học thuyết này không phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế, đặc biệt là đối vói các nước đang phát triển vì nó loại trừ các khoản vay dài hạn là động cơ tăng trưởng.