CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, phân loại rủi ro tín dụng a. Khái niệm Trong số các loại rủi ro ngân hàng phải đối mặt thì RRTD vẫn luôn được xem là một trong những rủi ro quan trọng nhất bởi nó chiếm tỷ trọng lên đến đến 70% trong số các rủi ro của ngân hàng thương mại (Arunkumar và Kotreshwar, 2005).
Khoản 24 Điều 2 Thông tư 41/2016/TT-NHNN giải thích: Rủi ro tín dụng bao gồm: - Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trừ các trường hợp quy định tại điểm b khoản này; - Rủi ro tín dụng đối tác là rủi ro do đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thanh toán trước hoặc khi đến hạn của các giao dịch quy định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư này. Theo Nguyễn Văn Tiến (2010): Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu đủ được đầy đủ gốc là lãi khoản vay hoặc việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. Nếu tất cả các khoản đầu tư của ngân hàng được thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn thì ngân hàng không chịu bất cứ RRTD nào. Trong trường hợp người vay tiền phá sản thì việc thu hồi gốc lãi tín dụng đầy đủ là không chắc chắn, do đó ngân hàng có thể gặp RRTD.
Theo Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 01/VBHN-NHNN của Ngân hàng Nhà nước: RRTD trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. 8 RRTD đề cập đến các sự kiện bất ngờ gây ra tổn thất về mặt giá trị của tài sản, lợi nhuận thực tế thu được thấp hơn so với lợi nhuận dự kiến hoặc tạo thêm chi phí để hoàn thành một giao dịch cụ thể khi các đối tác không thể trả lại các khoản nợ gốc và lãi vay đúng hạn được ghi trong hợp đồng (Hull, 2010). RRTD phát sinh khi xuất hiện khả năng dòng tiền dự kiến mang lại từ việc nắm giữ các tài sản tài chính, ví dụ như các khoản vay hoặc trái phiếu, không được hoàn trả đầy đủ (Saunders và Cornett, 2008). Còn theo Ken Brown và Peter Moles (2016) RRTD có thể được định nghĩa thông qua 3 đặc điểm sau, bao gồm: Tổn thất mà đối tác phải gánh chịu khi vỡ nợ Xác xuất vỡ nợ: Khả năng đối tác không hoàn thành được nghĩa vụ đã được quy định theo hợp đồng.
Tỷ lệ phục hồi: thể hiện mức độ khôi phục lại những tổn thất đã bị gây ra do vỡ nợ. Từ đó RRTD có thể được thể hiện bằng công thức như sau: RRTD = Tổn thất vỡ nợ x Xác xuất vỡ nợ x (1-Tỷ lệ phục hồi) Theo quan niệm của Ủy ban Basel (2000) thì “RRTD là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận”. Theo khái niệm này thì RRTD có phạm vi khá rộng, không chỉ trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng mà trong cả các hoạt động khác như đầu tư, phái sinh mà ngân hàng thực hiện. Tuy nhiên, như đã giới thiệu trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ nghiên cứu RRTD trong hoạt động cho vay, vì vậy RRTD có thể hiểu đơn giản là sự vi phạm không hoàn trả nợ từ phía khách hàng vay.
Theo thông tư số 41/2016/TT-NHNN do NHNN Việt Nam ban hành ngày 30/12/2016: “RRTD là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. Như vậy, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về RRTD, theo đó tác giả có quan điểm về RRTD là tổn thất đối với thu nhập hoặc vốn của một ngân hàng xảy ra 9 khi khách hàng không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng cho vay. b) Phân loại Hình 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng Nguồn: Nguyễn Văn Tiến, 2013 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro: Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận: - Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay; - Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSBĐ, chủ thể đảm bảo, cách thứ đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của TSBĐ; - Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
Rủi ro danh mục: Là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung: 10 - Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của Khách hàng vay; - Rủi ro tập trung: Khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số Khách hàng; cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng vị trí địa lý nhất định, cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Rủi ro tác nghiệp: là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng. Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoản thời gian hoàn trả nợ vay.
Tuy nhiên, đến thời hạn quy ước nhưng Ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay. Rủi ro do mất khả năng chi trả: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp doanh nghiệp đi vay mất khả năng trả nợ, ngân hàng phải thanh lý TSBĐ của doanh nghiệp để thu nợ. Rủi ro không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động khác mang tính chất tín dụng của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ… 1. Nguyên nhân Đối với hầu hết các ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay, các khoản vay là nguồn RRTD lớn nhất và rõ ràng nhất.
Tuy nhiên, các ngân hàng đang ngày càng đối mặt với RRTD trong các công cụ tài chính khác nhau ngoài các khoản vay, bao gồm chấp nhận, giao dịch liên ngân hàng, tài trợ thương mại, giao dịch ngoại hối, tương lai tài chính, hoán đổi, trái phiếu, cổ phiếu, quyền chọn, và trong việc gia hạn các cam kết và đảm bảo, và giải quyết các giao dịch. Tuy nhiên, dù RRTD xuất phát từ công cụ hay sản phẩm tài chính nào thì ta vẫn có thể tạm chia nguyên nhân dẫn đến RRTD có thể chia thành 03 nhóm nguyên nhân bao gồm: nguyên nhân từ môi trường bên ngoài, nguyên nhân từ khách hàng và nguyên nhân từ ngân hàng. 11 Nguyên nhân từ môi trường bên ngoài Cũng giống như các doanh nghiệp khác, ngân hàng cũng phải chịu sự ảnh hưởng từ sự biến động của nền kinh tế vĩ mô (biến động tỷ giá, lạm phát, lãi suất), sự thay đổi môi trường chính sách pháp lý (thay đổi cơ chế, chính sách, quy định pháp luật của nhà nước), sự thay đổi quan điểm của hệ thống chính trị hoặc sự thay đổi của môi trường tự nhiên. Các nguyên từ môi trường bên ngoài thường mang tính chất bất khả kháng, NHTM thường khó có thể kiểm soát được mà chỉ có thể dự báo và thực hiện các biện pháp dự phòng rủi ro biến động.
Nguyên nhân từ khách hàng RRTD xảy ra khi khách hàng vay vốn không thanh toán một phần hoặc toàn bộ khoản nợ theo cam kết. Sự yếu kém của khách hàng trong tổ chức hoạt động kinh doanh dẫn đến thua lỗ, không tạo ra nguồn thu để trả nợ ngân hàng. Hoặc khi khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, sử dụng vốn ngắn hạn để đầu tư vào dài hạn dẫn đến mất cân đối vốn; sử dụng vào các hoạt động có rủi ro cao dẫn đến thua lỗ không trả được nợ cho Ngân hàng. Thậm chí, do chính bản thân doanh nghiệp có chủ ý lừa gạt, chiếm dụng vốn của Ngân hàng hoặc không có thiện ch trả nợ Ngân hàng.
Những nguyên nhân trên sẽ gây ra tổn thất cho ngân hàng và nếu ngân hàng phát hiện sớm thì rủi ro sẽ được ngăn chặn. Nguyên nhân từ ngân hàng Một trong những nguyên nhân nội bộ của ngân hàng là chính sách tín dụng của ngân hàng chưa minh bạch, quy trình cấp tín dụng chưa phù hợp dẫn đến việc tạo ra khe hở cho khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của Ngân hàng. Ngân hàng đôi khi quá chú trọng về lợi nhuận, do đó hạ thấp các điều kiện vay vốn sẽ dẫn đến việc thiếu thận trọng trong quá trình xét duyệt và cấp tín dụng, thiếu chặt chẽ, thiếu thận trọng, không tuân thủ quy trình kiểm soát hoặc kiểm soát mang tính hình thức, do đó có thể gây ra RRTD. Một nguyên nhân nội bộ khác là thuộc về đạo đức, trình độ chuyên môn của nhân viên ngân hàng.
Trong trường hợp cán bộ tín dụng không đủ trình độ chuyên môn để đánh giá đúng khách hàng hay tính khả thi của phương án vay vốn, RRTD 12 tất yếu sẽ phát sinh.